You must be logged in to post Login
Search Forums:


 






Minimum search word length is 4 characters – Maximum search word length is 84 characters
Wildcard Usage:
*  matches any number of characters    %  matches exactly one character

Phật giáo-Nghệ thuật sống

UserPost

12:29 am
December 14, 2014


khahan

khahan
Admin

posts 11748

Post edited 3:55 pm – December 26, 2014 by khahan


Thiên thu trong từng khoảnh khắc

Nương tựa hơi thở. Một hơi thở vào có thể dài từ bốn tới mười giây, một hơi thở ra có thể tương tự hoặc dài hơn.

Ảnh minh họa -Nguồn: Internet

Thường thì hơi thở ra dài hơn. Khi thở vào, bụng ta phồng lên; khi thở ra, bụng ta xẹp xuống. Nếu muốn kéo dài hơi thở ra, ta có thể ép bụng xẹp thêm nữa và như vậy ta có thể thở ra thêm vài giây nữa. Khi ép bụng để thở ra thêm ba bốn giây nữa thì phần thán khí trong phổi mình được thải ra thêm. Khi thả cho hai lá phổi hít vào là ta cho vào phổi thêm không khí trong lành.

Nếu biết cách kéo dài hơi thở ra để đưa không khí trong phổi ra ngoài nhiều hơn thì còn tốt hơn nữa. Khi chú ý tới sự phồng xẹp của bụng trong lúc thở thì đó là ta thở bụng. Khi thở bụng, hơi thở vào và hơi thở ra có thể dài hơn. Rất dễ chịu, nhất là khi phòng thoáng khí, hay là khi ta thực tập ngoài trời.

Càng có nhiều không khí trong lành càng có tác dụng tốt cho sức khỏe của ta. Thực tập thở bụng là đi theo sự phồng xẹp của bụng: khi bụng phồng lên, ta cùng phồng với nó; khi bụng xẹp xuống, ta cùng xẹp với nó và ta nói: “xẹp thêm một chút nữa!”. Như vậy ta đẩy thêm thán khí trong phổi ra ngoài. Đến khi thả ra thì không khí tự động được hít vào.

Nếu thấy dễ chịu trong khi thở vào, ta có thể cho không khí vào thêm một hoặc hai giây nữa. Nhưng nên chú ý tới phần thở ra nhiều hơn. Thở ra thêm được vài ba giây bao giờ cũng tốt cả.

Ta có thể quay về nương tựa nơi hơi thở. Ta thường hay nói nương tựa vào Tam Bảo, ít khi nói nương tựa vào hơi thở, hay vào bước chân. Nhưng nếu hơi thở có chánh niệm, nếu bước chân có chánh niệm, thì trong khi nương tựa vào hơi thở hay vào bước chân thì ta cũng nương tựa vào Tam Bảo. 

Vì bản chất của Tam Bảo là niệm, định và tuệ. Vậy nương vào hơi thở cũng chính là nương vào Tam Bảo. Nói “nương vào hơi thở” tuy không dùng danh từ Tam Bảo, nhưng bản chất của Tam Bảo có mặt trong hơi thở của ta. Trong khi ngồi, trong khi đi, ta hãy thở như thế nào để có hạnh phúc và an lạc ngay trong khi thở vào và thở ra. Ta không cần đi tìm hạnh phúc ở nơi khác, lúc khác. Ta tìm hạnh phúc ngay trong hơi thở vào và hơi thở ra.

Tịnh độ trong hơi thở

Tu Tịnh độ ta cũng có thể làm như vậy. Đừng đi tìm Tịnh độ ở một không gian hay một thời gian khác. Ta nên tìm Tịnh độ ngay trong hơi thở vào và hơi thở ra của ta. Tìm được Tịnh độ, có hạnh phúc ngay trong hơi thở vào và hơi thở ra là ta đã thành công, ta không còn lo lắng cho tương lai nữa.

Có Tịnh độ rồi, có hạnh phúc rồi, tại sao ta phải nghĩ tới tương lai nữa? “Thở vào, tôi ý thức là bụng tôi đang phồng lên; thở ra, tôi ý thức là bụng tôi đang xẹp xuống. Thở ra, tôi xẹp cái bụng thêm một chút nữa để cho hơi thở ra của tôi đi ra thêm”.

Trong khi thở như vậy, ta sẽ có rất nhiều hạnh phúc. “Thở vào, tôi tìm hạnh phúc ngay trong hơi thở vào của tôi. Tôi biết rằng nếu tôi không tìm được hạnh phúc ngay trong hơi thở vào thì tôi sẽ không tìm được hạnh phúc ở một chỗ nào khác”. Phải tự thách thức mình như vậy!

Trong một bài pháp thoại trước, tôi có nói rằng: Tịnh độ là bây giờ hay là không bao giờ cả! (The Kingdom is now or never!) Bây giờ là gì? Bây giờ là lúc ta đang thở vào. Ta phải tìm cho ra Tịnh độ, phải tìm cho ra hạnh phúc trong hơi thở vào. Phải tự thách đố mình. “Hạnh phúc là bây giờ hay không bao giờ hết” là khẩu hiệu của Làng Mai (happiness is now or never).

Theo giáo lý của Làng Mai thì ta chỉ có giây phút hiện tại thôi (The present moment is the only moment). Nếu trượt thì còn gì nữa! Ta nói ta có ước hẹn với sự sống, và cái ước hẹn đó được chỉ định là ở giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây. Điều này cũng dễ hiểu thôi, tại vì sự sống chỉ có mặt trong giây phút hiện tại.

Đánh mất giây phút hiện tại là đánh mất ước hẹn với sự sống, nên ta phải đúng hẹn. Thở vào chính là lúc để ta trở về với giây phút hiện tại, chính là lúc để ta tiếp xúc với sự sống. Hơi thở vào rất mầu nhiệm. Hơi thở vào chứa đựng niết bàn, chứa đựng Tịnh độ, chứa đựng hạnh phúc và tự do.

Chúng ta đừng nên đi tìm những thứ đó ở nơi khác và ở lúc khác. Đó là một sự thách đố. Nếu thở vào mà thấy được Tịnh độ, thấy được hạnh phúc, thấy được tự do, thì… hết hơi thở vào, ta chết cũng được! Ta đã thành công rồi! Tại sao phải đòi thêm mấy chục năm nữa?

Kiếp người trong hơi thở

Trong kinh Tứ Thập Nhị Chương có một đoạn đức Thế Tôn hỏi các thầy: “Mạng sống của con người được bao lâu?” Một thầy trả lời: “Bạch đức Thế Tôn, có thể nói là 100 năm”. Đức Thế Tôn mỉm cười. Ngài hỏi thầy khác. Thầy trả lời: “Bạch đức Thế Tôn, vài chục năm”. Đức Thế Tôn cũng mỉm cười. Ngài lại hỏi thầy khác, thầy này trả lời: “Bạch đức Thế Tôn, một tuần lễ”. Đức Thế Tôn vẫn mỉm cười.

Bụt lại hỏi, một thầy nữa trả lời: “Bạch đức Thế Tôn, một ngày một đêm”. Ngài cũng chỉ mỉm cười. Nhìn một thầy ngồi gần, Bụt hỏi, thầy này trả lời: “Bạch đức Thế Tôn, mạng sống của con người chỉ trong một hơi thở!” Đức Thế Tôn gật đầu.

Trong Quy Sơn Cảnh Sách có câu: Chuyển tức tức thị lai sanh, nghĩa là khi đổi một hơi thở vào thành một hơi thở ra là ta đã sanh ra đời khác rồi, tức là đời sống của ta bị giới hạn trong một hơi thở.

Vậy thì phải làm sao để trong hơi thở vào, ra, ta có hạnh phúc, có an lạc và có sự thỏa mãn. Được vậy là ta thành công. Đây là một thách thức rất lớn. Nếu trong hơi thở vào mà không có hạnh phúc thì sức mấy mà anh có hạnh phúc trong tương lai.

Muốn có hạnh phúc, anh phải có một cái thấy (vision) rất sâu. Đó là cái thấy của kinh Hoa Nghiêm: một giây phút chứa đựng cả thiên thu. Không những đức Thế Tôn nói như vậy mà chính những thi sĩ lớn cũng nói như vậy. Thiền sư Khánh Hỷ, đức Tăng Thống của Phật giáo Đại Việt vào thế kỷ thứ XI có nói:

Càn khôn tận thị mao đầu thượng
Nhật nguyệt bao hàm giới tử trung.

Nghĩa là tất cả trời đất có thể đặt gọn trên một sợi tóc, và cả mặt trời mặt trăng có thể nhét vào trong một hạt cải. Cái vô cùng lớn nằm trong cái vô cùng nhỏ, và cái thiên thu nằm trong cái khoảnh khắc. Nếu sống với cái thấy của kinh Hoa Nghiêm, khi tiếp xúc với khoảnh khắc thì đồng thời ta cũng tiếp xúc với thiên thu.

Ta không thiếu cái gì cả. Và như vậy hơi thở vào là một sự thách thức đối với ta. Có hạnh phúc hay không là tùy ở hơi thở vào đó. Thực tập thiền đi cũng vậy. Mỗi bước chân là một thách thức. Ai cũng bước một bước. Nhưng có người thì bước trong cõi Tịnh độ, còn có người thì bước trong cõi trầm luân. Tùy theo cái thấy của ta mà thôi.

Bước như thế nào để có thể đi vào Tịnh độ, để có an lạc và hạnh phúc liền trong bước đó. Ta phải đầu tư hết con người của ta vào trong bước chân đó. Bước chân đó phải có niệm, có định và có tuệ. Ta biết một bước chân chứa đựng tất cả những bước chân: đi được một bước thành công là tất cả những bước chân khác cũng thành công.

Mà suốt cả một trăm năm có mấy ai đi được một bước như vậy? Đi được một bước như vậy rồi thì ta cần gì một trăm năm nữa?

Thiên đường và địa ngục

Trong truyền thống Do-Thái và Ki-Tô giáo, quan niệm về thời gian và không gian khác với quan niệm về thời gian và không gian trong đạo Bụt. Trong tín ngưỡng phổ thông của Cơ Đốc giáo, có một cõi đời do Thượng Đế tạo dựng, và chúng ta chỉ có một đời để sống trên cõi đời này thôi. Khi chết, chúng ta lên thiên đường hoặc xuống địa ngục.

Thiên đường, địa ngục ở hai bên. Khi xuất hiện ở cõi đời thì anh chỉ có cơ hội sống một kiếp thôi. Tùy theo cách anh sống ở kiếp đó mà sau đó anh đi lên thiên đường hoặc đi xuống địa ngục, lên là lên luôn, xuống là xuống luôn – vĩnh viễn. Anh không có cơ hội trở về cõi đời này nữa. Đó là vũ trụ quan của người Cơ Đốc.

Nhưng nhiều khi cuộc đời ngắn ngủi quá, chưa được một trăm năm, mới chỉ được ba bốn chục năm mà ta đã chết rồi, thành ra ta cảm thấy rất cấn cái, chật vật, không thoải mái. Theo ý của Chúa, chúng ta chỉ có chừng đó thời gian thôi. Thành cái thấy của Ki-Tô giáo đối với cuộc đời trên trái đất này cho chúng ta một cảm giác thôi thúc, phải làm gấp, phải nhanh lên, không nên làm biếng.

Đạo Phật có dạy về luân hồi, nghĩa là chết rồi thì sanh trở lại và sanh ra rất nhiều kiếp. Thành ra người Phật tử cứ… tà tà. Kiếp này không thành công thì kiếp sau, có gì mà phải vội vàng! Với cái thấy đó, ta cho phép mình làm biếng.

Nhưng coi chừng! Nếu kiếp sau, tuy được sanh lại trên cõi đời này nhưng nếu không được làm người mà phải làm con chim, con cá, con cóc, con thỏ, thì ta đâu được gặp thầy, đâu được theo tăng thân tu học. Vì vậy nên ta cũng phải cảnh giác, không thể nào làm biếng được đâu! Nhất thất nhân thân, vạn kiếp bất phục. 

Nghĩa là một lần mất thân người muôn kiếp khó trở lại. Đó cũng là tiếng chuông chánh niệm. Thành ra ta đừng coi thường! Tuy sẽ sanh lại rất nhiều lần nhưng chắc gì anh được làm người trở lại. Vì vậy anh cần phải đề cao cảnh giác.

Lá nuôi cây, cây nuôi lá

Thầy thị giả mới nhặt chiếc lá sồi này ở ngoài sân. Chiếc lá này sanh ra vào mùa xuân và đến khoảng tháng mười một năm nay thì nó rụng. Nó tồn tại vào khoảng tám tháng. Chúng ta người nào cũng có ngày sanh và ngày diệt. Chúng ta không khác gì chiếc lá. Chiếc lá này đã có cơ hội của nó rồi.

Tám tháng của đời nó đã đi qua. Đứng về phương diện của người Phật tử, chúng ta thấy chiếc lá có thể bắt đầu trở lại được. Chúng ta cứ để chiếc lá này mục đi, thành đất. Và cây có thể lấy chất liệu bổ dưỡng đó để làm ra những chiếc lá mới.

Vậy thì chiếc lá này có thể luân hồi để thành những chiếc lá khác. Nhưng nó có thể không luân hồi thành một chiếc lá mà luân hồi thành cành cây; nó có thể không luân hồi vào cây này mà luân hồi vào một cây khác. 

Như vậy, không có gì bảo đảm cả. Nghĩa là nó sẽ tiếp tục. Tám tháng là một cơ hội. Trong tám tháng đó, chiếc lá này có thể đã làm ăn rất hay.

Chúng ta có thể thấy nó mới sinh ra, xanh mơn mởn và đùa giỡn trong ánh nắng mặt trời tháng tư, tháng năm. Chiếc lá này đã chứng kiến trời xanh mây trắng, đã thu nhiếp ánh sáng mặt trời, đã chế tác nhựa nguyên thành nhựa luyện, đã nuôi cây và nuôi cành.

Chiếc lá này đã làm việc rất nhiều. Không phải chỉ có cây mới nuôi lá, mà lá trong suốt đời của nó cũng đã chế tác nhựa luyện để nuôi cây.

Vì vậy nên nhìn vào lá là thấy cây và nhìn vào cây là thấy lá. Nhìn vào xác lá, chúng ta đừng tưởng tất cả chiếc lá đang nằm trong cái xác này. Không! Chiếc lá này hiện vẫn đang nằm trong cây, vì suốt cuộc đời nó đã nuôi cây.

Mỗi ngày, chiếc lá này hấp thụ những chất khí trong không gian, hấp thụ ánh nắng của mặt trời, tinh luyện ra nhựa luyện để gởi trở lại nuôi cây, nuôi cành và nuôi rễ. Vì vậy nói cuộc đời tám tháng của chiếc lá nằm trong cái xác lá này là không đúng.

Đây chỉ là một phần nhỏ của chiếc lá. Chiếc lá hiện còn sinh động rất nhiều ở trong cây và đến tháng tư sang năm nó sẽ biểu hiện trở lại.

Như ông nội của mình, đừng nói ông nội mình đang nằm trong lòng đất! Ông nội đang có mặt trong mỗi tế bào của cơ thể mình. Mỗi khi mình thở vào thanh thản, nhẹ nhàng, ông nội mình cũng đang được thở vào thanh thản, nhẹ nhàng. Ít hay nhiều, mình phải thấy được ông nội qua từng hơi thở. Cũng vậy, đừng thấy chiếc lá đã sống được tám tháng trên cây, hiện đang nằm dưới hình thức một tờ lá chết. Không! Chiếc lá đó không chỉ nằm ở đây: nó nằm ở mọi nơi, ở trong cây và ngoài cây.

Chúng ta đã đi thiền hành qua những hàng sồi trong mùa xuân, trong mùa hè. Chúng ta đã hít thở không khí trong lành của chiếc lá tỏa ra. Chiếc lá có mặt trong mỗi người chúng ta. Ta phải thấy chiếc lá này ở trong ta, không phải chỉ ở ngoài ta mà thôi.

Quý vị đã tới Làng Mai. Quý vị đã hít thở và đã có những chiếc lá mùa xuân, mùa hè trong quý vị. Những chiếc lá đó đã chế tác dưỡng khí cho quý vị thở. Vì vậy nên chúng ta đừng dại dột nghĩ chiếc lá chỉ nằm trong cái xác lá này. Chiếc lá có mặt trong cây, trong quý vị và nó đang tiếp tục luân hồi.

Tịnh độ trong ta bà

Quan niệm về thời gian trong đạo Phật rất khác với quan niệm về thời gian trong đạo Chúa. Trong tín ngưỡng bình dân của đạo Phật thì có cõi ta bà, nhưng ngoài cõi ta bà còn có những cõi khác nữa. Trong đạo Phật có “tam thiên đại thiên thế giới”. Trong kinh, Bụt nói rằng: “Quý vị hãy nhìn sông Hằng xem! Sông Hằng có biết bao nhiêu là cát. Giả dụ mỗi hạt cát là một tam thiên đại thiên thế giới và sự thật là có bao nhiêu cát thì có bấy nhiêu tam thiên đại thiên thế giới”.

Cái thấy của đạo Phật về vũ trụ so với cái thấy đạo Chúa lớn hơn nhiều. Trong Thánh kinh, vũ trụ, trước hết là trái đất này. Trái đất là sân khấu của lịch sử: lịch sử bắt đầu ở đó và chấm dứt tại đó. Ban đầu, Thượng Đế tạo dựng ra với mục đích nào đó, và con người phải vâng theo ý của Chúa thì mới thành công.

Khoa học vẫn còn bị ảnh hưởng bởi quan niệm thời gian đó. Khoa học đã cố gắng đi tìm cái khởi thỉ của vũ trụ, và do đó mới có thuyết Big Bang. Nhưng trong đạo Phật thì không có khởi thỉ (vô thỉ) và không có chung cuộc (vô chung).

Trong đạo Phật có cõi ta bà, có những cõi trời và những cõi khổ đau. Có nhiều thứ địa ngục chứ không phải chỉ có một. Có địa ngục này dễ thở hơn địa ngục khác. Từ trái đất chúng ta lại sinh ra lại trong trái đất và tùy theo nghiệp lành hay nghiệp dữ mà chúng ta được sinh lên cõi trời hay phải xuống địa ngục.

Ở cõi trời cũng vô thường. Nếu thực tập năm giới một cách vững chãi, quý vị được sinh lên cõi thiên. Sau khi hưởng hết phước báu, quý vị trở xuống lại. Nếu quý vị làm ăn không đàng hoàng thì phải xuống địa ngục.

Sau khi trả quả báo ở địa ngục xong thì quý vị được lên trở lại. Rất vui. Trong đạo Phật có nhiều cõi trời và nhiều loại địa ngục. Chúng ta thấy trong vũ trụ quan của đạo Phật, con người thoải mái hơn, đứng về phương diện không gian cũng như đứng về phương diện thời gian. Không có giới hạn về không gian và thời gian, ta gọi là vô thỉ vô chung.

Theo kinh điển đạo Phật, trái đất này là nơi đức Thích Ca chọn để làm Phật độ của ngài. Đọc trong kinh điển, ta được biết một kiếp ở cõi ta bà chỉ bằng một ngày một đêm ở cõi Tịnh độ của Bụt A Di Đà.

Qua đó ta thấy quan niệm thời gian tương đối rất rõ ràng ở trong đạo Bụt. Cũng trong khoảng thời gian đó mà người này thấy rất dài và người kia thấy rất ngắn. Ví dụ khi ngồi thiền 45 phút: có người thấy thời gian dài quá, sao chưa có tiếng chuông? Có người thấy thở chưa đã mà đã có tiếng chuông rồi!

Tùy theo nhận thức của mỗi người mà thời gian 45 phút đó trở nên lâu hay mau. Có phải vậy không? Những người ở tù thấy một ngày trong tù bằng một ngàn năm ở ngoài. Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại. Thời gian là một cái gì tương đối.

Thời gian là sản phẩm của trí óc. Nó dài hay ngắn tùy theo cái nhìn của mình. Một kiếp ở cõi ta bà chỉ bằng một ngày một đêm ở cõi Tịnh độ; một kiếp ở cõi Tịnh độ này có thể chỉ ngắn bằng một ngày một đêm của cõi Tịnh độ khác.

Thời gian và không gian

Đến Làng Mai, quý vị thấy một ngày ở Làng Mai cũng khác với một ngày ở thành phố quý vị đang sống. Có một lần tôi đi trên một chiếc xe du lịch (limousine) thuê được ở thành phố, cùng đi với các vị khác để viếng động Ajanta.

Đó là một dãy núi mà người xưa đã đục để làm thành nhiều tu viện từ thế kỷ thứ II tới thế kỷ thứ IX. Người ta đục núi ra và trong đó có Phật điện, thiền đường, tăng xá, v.v… đủ hết.

Trong khi làm việc, để có đủ ánh sáng, người ta đã dùng những tấm kiếng để đưa ánh sáng vào trong. Trong động có những tượng Phật và những tác phẩm nghệ thuật khác rất đẹp. Tôi đã từng nằm trên những cái giường bằng đá trong những cái liêu của các thầy để có cảm tưởng mình sống vào thế kỷ thứ II, thứ III Tây lịch.

Cái giường bằng đá đó cũng do con người đục núi làm ra. Trên đường đi Aurangabad,trời rất nắng. Cố nhiên, khi đi xe du lịch là mình muốn tới nơi sớm chừng nào hay chừng đó. Đi tới một chỗ đó thì mình gặp một chiếc xe bò. Chiếc xe bò đi cà rịch cà tang, cà rịch cà tang, rất chậm. Con đường rất khúc khuỷu.

Con bò kéo chiếc xe không vội vã gì hết. Người đánh xe cũng vậy. Anh ta ở trần. Anh ta ngồi rất thoải mái trên chiếc xe bò. Anh ta che đầu bằng một nhành cây. Anh ta đi nhưng không có ý muốn tới sớm như người lái xe du lịch. 

Người lái xe du lịch từ thành phố tới, và cố nhiên muốn đưa khách tới nơi tham quan càng sớm chừng nào càng tốt chừng đó, để lấy tiền và về đi làm chuyến khác. Vì vậy nên trong người lái xe có cái thao thức muốn đi mau để tới sớm.

Nhìn ra, tôi thấy chiếc xe bò do một con bò kéo và có một người ngồi ở trần, đang che nắng bằng một nhành cây đầy lá. Điều này chứng tỏ là con bò không có niềm thao thức muốn đi cho mau tới mà người ngồi đánh xe bò cũng vậy. Tôi thấy rõ ràng có hai thời gian, hai thế giới hoàn toàn khác nhau. Người đánh xe và con bò, cả hai hoàn toàn không hối hả.

Trong khi đó, người lái xe du lịch rất hối hả muốn tới. Chúng ta thấy rất rõ hai hình ảnh đó đại diện cho hai cái thấy về thời gian. Thời gian khác thì không gian cũng khác. Người lái xe du lịch và anh nông dân đang ngồi trên chiếc xe bò, hai người đang sống trong hai thế giới hoàn toàn khác nhau.

Những ước mơ, những tính toán, không gian với thời gian, hoàn toàn khác nhau. Và người này không muốn trở thành người kia, người kia không muốn trở thành người này. Ai hạnh phúc hơn ai? Chưa biết!

Vũ trụ trong hạt bụi

Vòng tròn tượng trưng cho một thế giới hay một đơn vị thời gian. Thế giới đó nằm trong một thế giới khác lớn hơn, cũng như nước Pháp nằm trong Âu châu; Âu châu ôm lấy nước Pháp, nhưng Âu châu nằm trên quả địa cầu; quả địa cầu nằm trong Thái dương hệ; Thái dương hệ nằm trong dải ngân hà.

Cái này ôm lấy cái khác, và cái khác được ôm lấy bằng cái khác nữa. Trong cái thấy của đạo Bụt, không những cái lớn ôm lấy cái nhỏ mà cái nhỏ cũng ôm lấy cái lớn.

Như chiếc lá sồi này, và cây sồi ngoài kia, nếu quý vị nói chiếc lá này nằm ngoài cây sồi là không đúng. Chúng ta đã quán chiếu để thấy trong suốt tám tháng trời chiếc lá đã làm việc: nó đã cười, đã reo, đã đi qua bao nhiêu mưa nắng.

Chiếc lá đã tinh chế biết bao nhiêu nhựa luyện để nuôi thân cây, nuôi những chiếc lá anh, lá chị, lá em, và hiện giờ nó vẫn còn đang có mặt trong cây sồi ngoài kia. Nếu quý vị nghĩ nó chỉ có mặt trong cái xác lá này thôi là quý vị lầm.

Cũng như quý vị tưởng ông nội của quý vị đang nằm trong lòng đất là quý vị lầm. Ông nội của quý vị đang nằm trong quý vị, ông đang thở, đang mỉm cười với quý vị. Chiếc lá này đang chứa đựng cả cái cây. Quý vị đang chứa đựng tất cả tổ tiên. Tổ tiên huyết thống và tổ tiên tâm linh đều đang có mặt trong quý vị. Cái một chứa đựng cái tất cả. 

Đó là cái thấy của kinh Hoa Nghiêm. Ta phải thấy được cái một trong cái tất cả và cái tất cả trong cái một; ta phải thấy được thiên thu trong khoảnh khắc, lúc đó ta mới có tự do. Ta phải thấy khi ta thở là thở cho tất cả tổ tiên.

Và nếu trong một hơi thở, ta có thảnh thơi, có tự do và hạnh phúc thì tất cả tổ tiên ta đều được thừa hưởng. Một hơi thở rất quan trọng. Đó là một hành động giải phóng. Giải phóng cho tất cả các tổ tiên trong bao nhiêu kiếp nếu hơi thở đó đem lại cho ta niệm, định và tuệ.

Tuệ là cái thấy. Thấy cái gì? Thấy được cái một chứa đựng cái tất cả, thấy một khoảnh khắc chứa đựng cả thiên thu. Nên công phu của quý vị là phải nắm lấy từng hơi thở và từng bước chân. Quý vị phải thành công được trong hơi thở đó, trong bước chân đó, chứ đừng nói “vô lượng kiếp”. Không cần đến vô lượng kiếp.

Trong đạo Phật thường nói bản môn nằm trong tích môn. Nếu tiếp xúc được với một giây phút của tích môn cho thật sâu sắc là ta tiếp xúc được với bản môn. Nếu tiếp xúc được với cái khoảnh khắc cho sâu sắc là ta chạm được cái thiên thu ở trong đó rồi. Vậy thì vòng tròn nhỏ – tượng trưng cho đơn vị không gian và thời gian nhỏ nhất – được ôm lấy bởi vòng tròn lớn – tượng trưng cho không gian và thời gian lớn hơn.

Đó là một chiều. Chiều thứ hai là tuy là đơn vị nhỏ nhất nhưng đồng thời nó cũng chứa đựng tất cả ở trong nó. “Trong hạt bụi có vô số Bụt, mỗi vị an trú chúng hội mình. Đức tin của con vẫn tràn đầy trong mỗi hạt bụi của Pháp giới”. Khoa học bây giờ bắt đầu thấy được điều đó: một hạt bụi chứa đựng tất cả những hạt bụi. Ý niệm về một, về nhiều, về lớn, về nhỏ, bắt đầu tan biến. Tu học là để giác ngộ. Giác ngộ để có hạnh phúc.

Niết bàn trong sinh tử

Có một lúc nào đó, tự nhiên chúng ta thấy mình đang đi trên con đường thời gian.

Chúng ta thấy chúng ta tới từ vô thỉ. Trong đạo Phật, không bao giờ có cái bắt đầu. Điểm bắt đầu của cái này là sự chấm dứt của cái khác. Bắt đầu của năm 2008 là sự chấm dứt của năm 2007, vì vậy cho nên năm 2008 chỉ là sự tiếp nối của năm 2007 mà thôi. Thành ra cái chúng ta gọi là bắt đầu không phải là bắt đầu mà chỉ là sự tiếp nối. Sự bắt đầu của năm 2007 chẳng qua là sự chấm dứt của năm 2006! Vì vậy cho nên không có cái bắt đầu.

Khoa học bây giờ nên đi theo chiều hướng đó để tiếp tục khám phá, chứ đi tìm cái bắt đầu là vẫn còn bị kẹt. Vì ý niệm bắt đầu là một sáng tạo phẩm của trí óc (mental construction). Trong đạo Phật có vô minh, có luân hồi, nên người Phật tử tu là để chấm dứt luân hồi, đạt tới niết bàn. Ví dụ mình tu tới giao điểm A  là chấm dứt được luân hồi.

Luân hồi hình như có điểm chấm dứt. Chấm dứt luân hồi tức bắt đầu niết bàn. Niết bàn hình như có điểm khởi đầu. Và đó là ý niệm về đắc mà Tát Bà Đa bộ sáng tạo. Đắc là cái gì mình chưa có mà bây giờ mình có, như danh từ đắc đạo.

Từ vô thỉ tới bây giờ chúng ta có sinh tử (samsara). Tới điểm A, chúng ta chứng đắc niết bàn. Sinh tử chấm dứt ở A và niết bàn cũng bắt đầu từ A, giống như là sinh tử không có bắt đầu nhưng lại có chung cuộc; niết bàn giống như là có bắt đầu nhưng lại không có chung cuộc. Nhìn thì thấy như vậy.

Trên quan điểm giải thoát, sinh tử từ vô thỉ tới. Khi chúng ta đắc thì sinh tử chấm dứt. Niết bàn là vô chung, nhưng lại có điểm khởi thỉ, là giao điểm đắc đạo (A). Đó là một sản phẩm của Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ, trong đó có ý niệm về đắc và thất.

Hễ được niết bàn là mất sinh tử. Đó là quan niệm lịch sử về vô thỉ, vô chung. Nhưng trong đạo Phật có những tông phái chủ trương niết bàn và sinh tử đều là những hoa đốm giữa hư không. Ví dụ có một người đấm mình một cái.

Tá hỏa tam tinh, tự nhiên mình thấy 36 ngọn đèn. 36 ngọn đèn đó có thiệt hay là sản phẩm của một cú đấm? Trong kinh có nói niết bàn hay sinh tử đều là sản phẩm của cú đấm (Niết bàn sinh tử thị không hoa). Niết bàn và sinh tử đều là những tạo tác của tâm ý mà thôi. Có vị thiền sinh hỏi: “Bạch thầy, con đi tìm niết bàn ở đâu?” Thiền sư nói: “Con đi tìm niết bàn ngay trong sinh tử chứ còn ở đâu nữa!” Trong sinh tử có niết bàn. Đó là cái thấy bất nhị.

Thời gian 45 phút quý vị ngồi thiền cũng vậy. Có người nói sao 45 phút lâu quá vậy! Có người nói sao mới ngồi xuống là hết giờ liền! 45 phút đó lâu hay mau là tạo tác của tâm ý quý vị, là tùy quý vị có pháp lạc hay không trong khi ngồi thiền.

Niết bàn, sinh tử chẳng qua là những ý niệm, cho nên mới có danh từ chân như. Chân như là nó như vậy! Chúng ta có thể diễn tả thực tại là niết bàn, hay là sinh tử cũng được. Rất mầu nhiệm.

Đại dụng

Vì vậy cho nên quan niệm về thời gian và không gian trong đạo Phật hoàn toàn khác so với trong lịch sử. Sinh ra trong truyền thống Phật giáo, quý vị được thừa hưởng quan niệm về không gian và thời gian rất đặc biệt. Nó thênh thang, không có ngằn mé. Quý vị sẽ có rất nhiều tự do nếu quý vị muốn, cái đó gọi là đại dụng.

Khi có cái thấy đó rồi thì muốn cái gì là được cái đó. Nếu quý vị muốn là ánh sáng thì quý vị là ánh sáng, bây giờ và ở đây. Nếu quý vị muốn là ông nội thì quý vị là ông nội liền bây giờ; nếu quý vị muốn là Phật thì là Phật ngay bây giờ; nếu quý vị muốn ở trong lâu đài của đức Di Lặc thì quý vị ở trong lâu đài của đức Di Lặc ngay bây giờ.

Không cần đi tìm kiếm. Vì đã thấy được cái một ở trong cái tất cả. Trong hơi thở vào, quý vị có thể tiếp xúc được với tất cả. Trong từng bước chân, quý vị có thể thể hiện được thần thông.

Bất khả đắc

Trong kinh Hoa Nghiêm có phẩm Dạ Ma Thiên. Đức Thế Tôn lên cõi trời Dạ Ma. Hàng chục ngàn thính chúng được ngồi với đức Thế Tôn hạnh phúc quá chừng. Có một ông ở cõi Diêm Phù vừa lên cõi Dạ Ma, thấy Bụt, ông ngạc nhiên nói: “Lạ quá! Tôi vừa mới thấy đức Thế Tôn ở dưới Diêm Phù mà lên đây cũng thấy Ngài nữa. Ngài lên hồi nào vậy?” Các vị trời trả lời: “Ngài ở đây lâu rồi!” Lạ quá! Đức Thế Tôn có mặt đồng thời trong hai cõi: ngài vừa có mặt ở dưới Diêm Phù, ngài vừa có mặt ở cõi Dạ Ma.

Đó là cái thấy của kinh Hoa Nghiêm. Anh không chỉ ngồi ở đây đâu. Anh tưởng là anh đang ở đây nhưng kỳ thực anh cũng đang đồng thời có mặt ở bên kia. Anh tưởng chiếc lá này đang ở trong thiền đường? Không đúng. Chiếc lá này đang ở trong cây, trong chúng ta, tại vì chúng ta đã hít dưỡng khí của nó thải ra.

Chiếc lá này đang ở trong không gian vô cùng và thời gian vô tận. Anh đi tìm chiếc lá này không được đâu. Sức mấy mà anh nắm bắt được chiếc lá này, bất khả đắc. Sức mấy mà anh nắm bắt được Bụt, nắm bắt được chính anh. Anh là bất khả đắc. Đó là cái thấy của kinh Hoa Nghiêm.

Nhìn cho kỹ, niết bàn không phải bắt đầu từ giao điểm A. Nhìn cho kỹ, sinh tử không phải chấm dứt tại giao điểm A. Niết bàn chính là sinh tử, sinh tử chính là niết bàn. Vì vậy cho nên chỉ có một dòng chảy từ vô thỉ tới vô chung, gọi là chân như.

Anh gọi nó là niết bàn cũng không được, sinh tử cũng không được. Cái niết bàn anh đang đi tìm, anh đi tìm ở đâu? Nó đâu có ở ngoài. Nó ở chính trong anh. Cũng như có người đi tìm không gian.

Mình đang ở trong không gian rồi mà còn đi tìm không gian làm gì nữa? Giống như con cá đi tìm nước. Nó đang bơi lội trong nước mà đi tìm nước làm gì nữa? Niết bàn cũng vậy. Chúng ta đang bơi lội trong niết bàn mà còn đi tìm niết bàn! Cái mà chúng ta gọi là thiên quốc, cái mà chúng ta gọi là Tịnh độ, cái mà chúng ta gọi là hạnh phúc, nó nằm ngay trong hơi thở vào của anh, nó nằm ngay trong hơi thở ra của chị.

Anh, chị, đừng có đi tìm xa, chúng ta có đủ hết tất cả rồi. Chúng ta đã là cái mà chúng ta muốn trở thành (You are already what you want to become).

Món quà cho đời

Hơi thở vào là cơ hội của quý vị. Bước chân là cơ hội của quý vị. Quý vị còn đi tìm cái gì nữa? Thành công hay thất bại là ở hơi thở vào đó, là ở bước chân đó. Thở như thế nào mà trong khi thở, quý vị cảm thấy có tự do, an lạc và hạnh phúc.

Đi như thế nào mà trong khi đi, quý vị cảm thấy có tự do, an lạc và hạnh phúc. Cái chúng ta đi tìm nằm ngay ở đây (This is it). Thấy được điều đó rồi, chúng ta có rất nhiều tự do. Anh đang tập sự xuất gia (aspirant). Chị đang tập sự xuất gia.

Anh và chị đang chờ đợi ngày được xuất gia, để được gọi là sa di, là sa di ni. Nhưng chúng ta đâu cần phải đợi tới ngày ấy. Khi đang tập sự, chúng ta cũng có thể chứng đắc được với hơi thở vào và hơi thở ra. Làm thầy tu, ta có cơ hội làm chuyện thở vào, thở ra và ta có sự thích thú được tiếp tục làm chuyện đó. 

Và một khi mình làm được chuyện đó thì mình cũng làm được cho cha, cho mẹ, cho tổ tiên, cho Bụt, cho thầy và cho cả thế giới. Sự giải phóng của một con người là món quà lớn nhất mà người đó có thể hiến tặng cho cuộc đời. Sự thành công đó, ta phải đạt cho được trong hơi thở vào và hơi thở ra của mình.

Đó là một sự thách đố. Anh làm chuyện đó không phải cho riêng anh. Anh thở vào không phải cho riêng anh. Anh thở vào cho cả thế giới, cho cả vũ trụ. Chiếc lá này đã làm được chuyện đó, tại sao anh không làm được như vậy?

Tại sao anh lo lắng, anh sầu khổ, anh sợ hãi? Anh đang làm người. Anh có cơ hội ngồi xuống. Anh có cơ hội thở vào. Anh có cơ hội đi từng bước chân. Tại sao anh không thành công? Anh còn đi kiếm cái gì nữa?

Vườn hoa Phật giáo



12:34 am
December 14, 2014


khahan

khahan
Admin

posts 11748

Yêu thương không bao giờ là quá muộn màng

Cuộc sống tuôn trào cùng dòng thời gian bất diệt luôn sẵn sàng đón ta vào những vòng xoáy của lợi danh, hư ảo, được mất, hơn thua.

Ảnh minh họa -Nguồn: Internet

Để rồi một ngày ta chợt nhận ra ta lãng quên nhiều điều quan trọng. Ta loay hoay đi tìm hạnh phúc nhưng biết đâu rằng hạnh phúc thật gần. Đó là mẹ. Người cho ta nhựa sống, cho ta tất cả bằng tình thương yêu và trái tim chân thành.

Hạnh phúc không ở đâu xa vời, nó ẩn mình sau những cuộc điện thoại cho mẹ và biết rằng mẹ vẫn khỏe, nó là nụ cười trên khuôn mặt in hằn những ngày tháng vất vả của mẹ, nó là niềm vui khi mẹ nhìn đàn cháu thơ ngây chơi đùa dưới mái hiên. Và…hạnh phúc là ngày 20/10 – ngày của mẹ, bạn đến bên mẹ và nói rằng: “Mẹ ơi! Con yêu mẹ!”

Anh trai của em!

Đã lâu lắm rồi anh nhỉ, anh em mình chưa tâm sự cùng nhau như những người bạn. Đã lâu lắm rồi, kể từ ngày anh cưới vợ, em không biết do anh, tại em, hay vì một điều gì đó, anh em mình không dễ dàng chia sẽ cùng nhau.

Dù thế, em vẫn luôn thương yêu anh, vẫn luôn ngưỡng mộ anh như cái hồi em còn là cô trò nhỏ trường làng. Đơn giản vì anh là anh trai em, vì anh tài giỏi. Anh cũng biết điều đó, đúng không anh.

Nhưng hôm nay, ngồi viết những dòng này gửi đến anh, em không muốn nói về những vấn đề to lớn ngoài thế giới rộng lớn kia. Em cũng không muốn nói với anh rằng em muốn được nhỏ lại để thần tượng anh, để được anh yêu thương chiều chuộng.

Mà hôm nay, em muốn được nói cùng anh những nghĩ suy của em về điều em chưa từng tâm sự. Đó là những yêu thương chúng ta dành cho mẹ.

Sẽ là thừa khi em nói với anh rằng, chúng ta có người mẹ thực sự vĩ đại. Thật là thừa khi em nói anh nghe những đắng cay, khổ cực mẹ đã trải qua.

Cũng chẳng cần em phải kể về những hi sinh, bao dung mà mẹ dành trọn cho anh em mình, anh nhỉ? Những điều ấy, những người con của mẹ hiểu rõ hơn ai hết. Và cả anh lẫn em đều biết, thế giới của anh em mình chỉ còn có mẹ.

Bố đã rời xa mẹ và anh em mình khi chúng ta chưa đủ trưởng thành để kịp làm cho bố một điều gì đó. Ngày em vào đại học, em đã hình dung lúc em ra trường, nhận tháng lương đầu tiên, em sẽ mua tặng bố một bộ vest mới.

Em đã hình dung niềm vui, nỗi tự hào hiện lên trên gương mặt của bố. Vậy mà, em chưa kịp tốt nghiệp, bố đã đi xa… 

Em khóc, khóc vì sự ra đi đau đớn của bố, khóc vì những lúc em mắc lỗi với bố, khóc cho những điều em dự định mà chưa kịp làm cho bố. Và, có một điều tệ hơn, đó là chưa một lần em nói với Bố rằng: "Con yêu bố!". Em giận và trách bản thân mình nhiều lắm, anh à. Em biết, anh trai em cũng vậy. Anh trai em cũng đau nỗi đau xa bố, cũng hối hận vì nhiều điều. 

Từ ngày bố đi, em sợ sự mất mát. Nếu trước kia em thường nghĩ đến hạnh phúc, thành công thì từ ngày bố đi, em chỉ cầu mong cho mẹ có nhiều sức khỏe.

Hằng đêm, em vẫn nghĩ về mẹ với một niềm yêu thương xen lẫn sự lo lắng, bất an. Em mong Thần Sức khỏe luôn cạnh bên để che chở, bảo vệ mẹ. Em đã nghĩ như vậy đó anh à. Từ ngày bố đi, em biết sống chậm lại, lo lắng nhiều hơn cho những người em thương yêu. 

Anh em mình đều làm việc và học tập xa nhà, mẹ ở nhà với cháu nhỏ, em càng lo lắng nhiều hơn. Mẹ luôn dặn em yên lòng, học tập tốt, đừng lo gì cho mẹ cả.

Nhưng không lo sao được hả anh? Em kể anh nghe những điều này, anh đã hiểu đúng không anh? Chúng ta chỉ còn có mẹ. Mỗi lần nghe câu: "Mẹ già như chuối chín cây…" là em lại thắt lòng. Em lo sợ. Em thực sự lo sợ anh biết không?

Hàng ngày, dù ít dù nhiều, em luôn gọi điện về thăm mẹ. Em cũng tự dặn mình phải quan tâm mẹ thay phần của anh. Vì anh là con trai, anh ít bộc lộ cảm xúc hơn con gái như em. Mẹ cũng hiểu điều đó nên chẳng bao giờ buồn vì lâu không thấy anh gọi điện về.

Anh à!

Ngày anh cưới vợ, mẹ vui. Nỗi mừng vui của mẹ hiện rõ nơi khóe mắt, khuôn mặt. Mẹ hạnh phúc vì con trai mẹ yên bề, mẹ hạnh phúc vì mẹ có thêm một người con. Em cũng vui, cũng hạnh phúc như mẹ, như anh.

Trong niềm vui của em còn nhen nhóm thêm chút hi vọng, anh biết là gì không anh? Là em hi vọng rằng, chị dâu sẽ thay anh quan tâm mẹ, gọi điện về hỏi han mẹ những lúc rãnh rỗi, thăm mẹ những ngày lễ Tết, nấu cho mẹ một nồi nước xông khi mẹ đau…Vì em biết mẹ chúng ta không bao giờ đòi hỏi ở con cái bất cứ điều gì lớn lao, nên những hi vọng của em cũng không quá cao, quá xa. Em đã mĩm cười với niềm hi vọng bình dị của mình.

Nhưng, mẹ đã không nhận được những điều đó….

Anh trai!

Mẹ chúng mình thật hiền, thật bao dung phải không anh? Mẹ thật hiền nên chưa một lần Mẹ trách mắng dù con dâu làm điều gì đó sai.

Mẹ thật hiền vì mẹ luôn dậy sớm, nấu bữa sáng đầy đủ đợi con dâu dậy ăn những ngày anh chị về thăm nhà…. Mẹ thật hiền vì nụ cười mẹ luôn thường trực, dù tim mẹ đau lắm, anh biết không anh?

Em không trách ai cả. Bởi em biết tính anh trai mình, luôn chu toàn cho công việc, cho xã hội nên đôi lúc những thăm hỏi hằng ngày anh không để ý đến.

Bởi em biết chị là con dâu, nên đối với mẹ chồng dù yêu thương đến mấy cũng không thể vẹn tròn. Em không trách ai, nhưng sao lòng em vẫn muốn nói ra một điều gì đó với anh, và đôi lúc, em muốn nói cùng chị nữa. Nhưng em lại không đủ can đảm.

Anh biết không?

Em chưa lấy chồng, chưa làm dâu, nên em không biết những khoảng cách giữa mẹ chồng nàng dâu. Nhưng em tin, sau này, em sẽ yêu thương mẹ chồng em đúng như cách em đang yêu thương mẹ mình vậy. Vì cả hai cùng là mẹ em. 

Em cố gắng làm được điều đó, không có nghĩa em có quyền đòi hỏi người khác cũng phải giống em, em chỉ hi vọng mình sẽ mang yêu thương đến mọi người, và vì mẹ chúng ta một đời nhân hậu, quả mẹ gặt được sẽ luôn ngọt ngào, lòng mẹ sẽ luôn đầy hạnh phúc, yên an.

Em mong từ giờ phút này trở đi, những điều mẹ mình nhận được chỉ toàn niềm vui, hạnh phúc. Em đau khi thấy mắt mẹ buồn, em bất lực khi nhìn mẹ khóc. Anh sẽ giúp em, đúng không anh?

Mẹ mình đã 65 tuổi. 

Thời gian trôi nhanh như gió thổi.

Đừng để một ngày nức nở, vì quá muộn để trao gửi yêu thương, anh nhé!

Ngày của mẹ đang đến gần, mẹ có thể đang chờ điện thoại đổ chuông… cuộc gọi từ anh…Và với mẹ yêu thương không bao giờ là quá muộn màng.

Em gái của anh!

Vườn hoa Phật giáo

 



12:38 am
December 14, 2014


khahan

khahan
Admin

posts 11748

Bão dạy ta điều gì trong cuộc sống?

“Năm nào cũng có thiên tai…nhắc nhở chúng ta rất nhiều….cuôc đời vốn vô thường, cuộc sống vốn mong manh, tai họa đến bất cứ lúc nào ko biết trước được, ngày mai vẫn là những ẩn số với tất cả, hãy sống yêu thương hơn, ý nghĩa hơn, đừng phân biệt người này kẻ nọ…

Ảnh minh họa -Nguồn: Internet

Vậy mà con người cứ nghĩ đời là thường còn, tranh giành hơn thua nhau mãi… chúng ta cứ đổ lỗi cho thiên tai, cứ khắc phục hậu quả, nói rất nhiều về thiệt hại nhưng nói nhiều thì cũng là kết quả, cũng là phần ngọn.. sao ko đề cập đến nguyên nhân theo lộ trình nhân quả.

Trên là Những dòng tâm sự cũng là những lời chỉ dạy tự đáy lòng, tâm huyết của một vị tu sĩ có cái nhìn về nhân quả mà trưa nay tôi vừa xem được trên tường facebook, những lời chỉ giáo hay là vậy, với tâm nguyện chỉ cho con người biết  cái nguyên nhân và cách khắc phục như vậy lại có vẻ như chả mấy người quan tâm và hiểu được.

Thật đúng như lời thầy đã nói, năm nào cũng có thiên tai, từ ngàn xưa cha ông mình đã luôn phải gánh chịu, biết bao thế hệ đi qua, biết bao mái nhà, bao mạng người đã ra đi vì bão tố, mà nếu lịch sử có thống kê, thì cho tới hôm nay con số chắc là không ai đọc được xuể, thiên tai địch họa là vậy, ấy thế mà có mấy ai để ý tới cái chiều sâu của nó đâu,

Thiên ta nhắc nhở chúng ta nhiều điều, về sự vô thường mong manh, về những ẩn số không một ai biết trước, nhưng con người chúng ta thì sao? ngoại trừ việc đổ lỗi cho nó, cứ nói nhiều về thiệt hại? mà không hề tính đến việc nhân quả vốn tuần hòan.

Càng ngẫm kỹ lại càng thấy được tấm lòng của một vị tu hành muốn độ chúng sanh thật là cao cả, đã vì thương cho chúng ta mà mở miệng nói lên những dòng nhiệt huyết trong cái vô ngôn của đạo, đã nói ra rằng:

 

“Cơn bão đi qua
Ngàn cây lá đổ
Xao xác buồn từng tiếng gió đi qua
Nhưng ai ơi đừng vội vàng trách bão….
Sao không nhìn lại mình – tạo hóa vốn vô tri?"

…Bão đi qua, lang thang tìm gặp những dòng cảm xúc, bạn trẻ Quỳnh Trang ở Hà Tĩnh đã viết nên cảm xúc của mình rằng:

“Bão ơi, đừng đến nữa,
Quê em nghèo lắm rồi
Mẹ còng lưng bám đất
Mái tranh vừa lên ngôi.
Bão ơi, xin đừng nổi
Cha khó nhọc suốt đời
Lênh đênh trên sóng nước
Kiếm chút mồi nuôi con.
Bão ơi, đừng về nữa…
Miền trung mảnh đất nghèo
Đạn bom thời khói lửa
Vết thương vừa thay da.
Bão ơi, em sợ hãi
Cảnh tan cửa nát nhà,
Bao mồ hôi khó nhọc
Chỉ một giờ tiêu tan."

Quả là những dòng thơ hay và đầy cảm xúc của một người con khi quê hương mình bị bão tố tàn phá. Có ai mà muốn bão tố vào đâu chứ, có ai nỡ vui vẻ nhìn giông bão càn quét quê hương. Tạo hóa vốn vô tri?” Giá như chúng ta ai cũng thấy được và cũng biết đặt ra câu hỏi vầy khi giông bão đi qua, và đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi ấy.

Hầu như chúng ta chỉ luôn trách cứ cho cơn bão, mà quên mất nhìn lại bản thân mình. Ngồi viết những dòng này đây ngoài kia trời vẫn đổ mưa to, thi thoảng từng cơn gió vẫn lùa qua mái ngói nghe sàn sạt, nhưng bão tố là vậy,  

Bão tố đi qua!

Nhà nhà tốc mái.

Bao vườn cây ăn trái

Ngã nằm dài trên đất!

Bao mặt người lây lất,

Ngác ngơ!

Và bơ phờ vì mất của.

Bao nhiêu lúa nhiêu khoai

Bao nhiêu ngô và sắn

Phải lặn mình trong nước lũ dâng cao!

Bao cây cối bờ rào,

Đổ gãy và bật gốc

Bão thổi bay sức nhọc

Của những người nông dân

Cần cù và chịu khó!

Sức mạnh những luồng gió

Đánh gãy cột 35…

 Bão tố đi qua

Thôn xóm xác xơ

Làng xã nhìn tiêu điều biết mấy???

Tàn cảnh của một cơn bão là vậy, những mái nhà mất ngói, những vườn cây xác xơ, những mặt người bơ phờ sau cơn bão. Nước Việt thân yêu của chúng ta với vị trí trải dài, cùng 3260km chiều dài ven biển và Biển Đông rộng lớn, thuộc một phần của Thái Bình Dương, là nơi phát xuất của những áp thấp thường xuyên, thì có lẽ mỗi người con nước Việt chúng ta khi nghe tin đài báo tin áp thấp nhiệt đới hay bão đổ bộ chỉ như là chuyện thường tình cơm cháo,

nhưng có ai biết rằng trong mỗi cơn bão, vẫn có những mảnh đời ngồi nơm nớp lo toan muôn vàn khó nhọc, bão thổi bay mái nhà bay cửa, bão quét tan bao nhiêu thửa ruộng trắng đồng, mưa bão về làm nước ngập mênh mông, xót lòng bao đứa trẻ, đau lòng bao bà mẹ ấy thế mà bão vẫn vào, bão vốn vô tâm là vậy.

Có lẽ những người con vùng đất duyên hải chúng ta đã quá quen với hình ảnh những người lớn lo giăng dây ràng néo nhà cửa mỗi khi có bão vào.

Ở thời đại ngày nay tuy ai cũng có nhà ngói nhà gạch, kiên cố, nên k phải bận tâm mấy về việc nhà cửa, đa phần là vậy, nhưng ở đâu đó thôi, khi cơn bão đã qua đi rồi, ta vẫn nghe thấy báo đài đăng tin bảo thổi bay bao nhiều nóc nhà, tàn phá bao nhiêu hecta hoa màu…chứng tỏ xung quanh ta vẫn luôn tồn tại những mảnh đời, những điều cần để ý, chúng ta nên xem lại và không thờ ơ đi với những điều đó.

Nói đến bão là nói đến gió, vì nếu chỉ mưa thôi thì không làm nên bão, bão vào gió thổi bay biển quảng cáo ngoài đường, thổi bay những nóc nhà tang thương nghĩ tới vô thường nhanh chóng.

Bão,vô thường? chúng ta đã bao giờ liên hệ tới điều đó chăng? hoặc có hoặc không nhưng tôi dám chắc rằng bão dạy ta rất nhiều thứ hay, đặc biệt là vô thường như lời Phật dạy. Nếu chúng ta để ý kỹ một chút thôi, thì sẽ thấy rất rõ điều này, cây cối ngoài sân vườn mới hôm qua xanh tươi xòe bóng mát đó, giờ đây đã phải xiêu vẹo đi, cành lá xác xơ bởi phải vặn mình chống chọi những luồng gió trong cuồng phong bão tố, đi dọc ngõ xóm đường làng, đâu cùng thấy nhành cây, lá cây đổ gãy, rác rơi đầy đường sau bão, chưa kể những mái nhà mới hôm qua là tổ ấm của một gia đình thì nay đã bị mất đi một phần hay toàn bộ tấm ngói. 

Qua đó, chúng ta đã thấy có chút vô thường chăng? vì nếu không vô thường sao những căn nhà những mái ngói đang yên lành kia phút chốc bỗng tan tành thành đổ nát, những cánh đồng bát ngát phải im chìm trong nước lũ dâng lên. Tai ương là vậy, bão tố cuồng phong là vậy, vậy chúng ta nên ngồi đây than trời trách đất không thương con dân nước Việt chúng ta, hay là đi tìm tòi những suy nghĩ khác?

Và như vậy thì cuồng phong nước bạc nó do Trời, do Thượng Đế trách phạt hay chúng ta là tại sao đây? con người chúng ta cũng nên phải gánh cho mình một phần trách nhiệm các bạn ạ. Chúng ta đã quen đi đổ lỗi cho tạo hóa rồi, V à bởi vì hơn ai hết chúng ta là những người con Phật nên không thể khiên cưỡng áp đặt lên nó quan điểm kia, mà chúng ta phải năng động, quán chiếu lời dạy của Phật về Nghiệp báo nhân quả khi nó xảy ra.

Tại sao bão không hình thành một trận cho to rồi quét một chuyến từ Đông sang Tây, tại sao dân miền Trung và Bắc nước ta chịu bão mà  miền Nam hầu như không có? Đó! chỉ đây thôi đã có việc cho chúng ta suy nghĩ rồi, mà nói đơn giản thôi thì đó là do nhân dân hai miền trên quá khứ đã từng gieo nghiệp gì đấy nên giờ mới phải chịu cảnh thiên tai như vậy, có thể quá khứ chúng ta đã đốn hạ những rừng cây xanh tốt, nên giờ đây phải hứng chịu nó, nhìn cảnh những cánh rừng bị ứa máu bởi sự khai thác gỗ hết mức trong quá khứ và hiện tại mà không khỏi xao lòng, rất mong chúng ta từ nay  có ý thức bảo vệ rừng, tích cực trồng cây xanh, vừa giúp cho bầu không khí quanh ta trong lành cải thiện môi trường sống.

Hơn nữa ngày nay khoa học công nghệ phát triển, các nhà máy chế tạo ngày càng nhiểu, lượng khí thải tạo ra gây ô nhiễm môi trường, tầng ô zôn của bầu khí quyển ngày càng bị đe dọa, mà nếu theo tính toán của khoa học thôi, thì một ngày nào đó không xa nữa, thế giới của chúng ta sẽ bị thiếu hụt ô xy, khi đó sự sống khó lòng mà tồn tại được,

mỗi người con Phật chúng ta hãy ý thức ban đầu từ bản thân mình và lôi kéo những người xung quanh ta cùng chung tay bảo vệ môi trường, phủ xanh đường xóm quê hương, tạo cho mình cái nhân duyên tốt đẹp để một kiếp nào đó chúng ta sẽ sinh ra ở những nơi có thời tiết an bình, không bị thiên tai tàn phá.

Bão lụt thiên tai ai ai cũng đều sợ, nhưng khi quy trách nhiệm thì chả có ai chịu nhận, trong khi đó chúng ta vẫn hủy hoại môi trường sống hằng ngày, những hành vi nhỏ, cho dù chỉ là vứt một cái túi nilon ra đường thôi, cũng đã là có lỗi rồi, gần thì nó làm cho con đường mất đẹp mà xa thì nó còn làm người khác đi sau nhìn thấy rất mất mỹ quan.

Bão mạnh đã qua rồi, nhưng giờ đây  trời ngoài trời Xứ Nghệ Tĩnh của chúng tôi gió vẫn thi thoảng quất lên mái nhà và mưa thì vẫn chưa hẹn ngày ngớt tạnh, rất mong chúng ta mỗi khi bão về, hãy cùng nhau nín thở lắng nghe tiếng gió sàn sạt, hãy cùng tựa cột nhìn mưa xối ào ào, cùng tĩnh lặng quán sâu tới mức cho trong sâu thẳm tâm thức chúng ta “biết sợ”, biết sợ, biết nổi da gà khi tiếng gió sàn sạt và nhìn mưa trời trắng xóa kia,

khi đó chúng ta mới biết lo nghĩ và ý thức những hành vi cũng như ý nghĩ của mình, biết quán chiếu nguyên nhân và từ đó cùng chung tay xây dựng môi trường sống chung quanh hài hòa tươi mát tức chúng ta cũng đang tu rồi vậy. Chỉ một người làm được vậy cũng là góp phần đẩy lui được một chút gió bão rồi.

Bởi vì ví dụ rằng nếu như nói đơn giản thì bão chỉ là mưa gió vậy thôi, mưa thì là nước rời trời rơi xuống, gió thì là sự dịch chuyển của không khí, nhưng là con Phật, chúng ta hẳn đều nghe tới những vị Thần, Thần gió, Thần mưa, Thần sấm, Thần sét…,chúng ta có tin rằng có những vị Thần đó không?

tại sao họ lại cho mưa cho gió ảnh hưởng nhân dân? cái này các vị ấy đâu muốn vậy, mà chúng ta đâu biết có chánh Thần thì cũng có tà Thần, có Thiên Long Bát bộ hộ trì chánh pháp thì cũng có tà Long gây hại chánh pháp, biết đâu cơn bão mạnh này chính là do sức thù hận của những oan khuất của bao nhiêu chó, gà,lợn, trâu..

những sinh mạng mà chúng ta đã giết trong quá khứ  trước kia, sức oán hận của những cánh rừng nay bị biến thành đồi trọc, chúng tụ lại với nhau tạo thành sức mạnh của gió và của nước, mà cho dù Vua Trời Đế Thích nhìn thấy cũng không cản được, vì đó là nghiệp quả xảy ra tất yếu.

Trên đây chỉ là tôi lấy ví dụ để chúng ta cùng thử suy nghĩ xem, chứ chúng ta đừng nghĩ tôi Thần Thánh hóa mọi chuyện, nhưng nếu chúng ta hiểu được thôi sẽ thấy được lời của Phật, của Tổ tuyên rằng “Tất cả các pháp đều là phật pháp” quả thực không sai.

Ngài Tuyên Hóa Thượng Nhân có day rằng “Vạn vật đều thuyết pháp cho ta”, thật đúng là như vậy, nếu biết nhìn và quán chiếu theo tuệ giác của đạo Phật, chúng ta sẽ rút ra được cho mình những bài học, những kinh nghiệm riêng trong bất cứ chuyển gì.

Qua bão giông, chúng ta học được thêm về sự vô thường, về bảo vệ môi trường sống quanh ta. Và qua bão, tình người chúng ta trong hoạn nạn càng thêm thắt chặt, lá lành đùm lá rách, tinh thần tương thân tương ái của những người con Rồng cháu Lạc chúng ta càng thêm gắn kết.

Vả cũng bởi vì như người anh hùng Nguyễn Văn Thạc đã nói “vả Đất Nước còn nhiều lam lũ lắm, đầu tắt mặt tối mà nào có đủ miếng ăn, cơm độn ngô rồi còn độn sắn, rồi mất cắp, rồi đánh chửi nhau, rồi thiên tai địch họa, ấy thế mà những chiếc lá tre kia vẫn dịu dàng,vẫn ru ta vào cõi là của tâm hồn,thật lạ biết bao?” mong chúng ta cùng nhau áp dụng tuệ quán của Đạo Phật chúng ta vào,cùng quán chiếu và cùng nhau tu tập, để trong thiên tai địch họa, những chiếc lá tre kia vẫn ru ta đi vào cõi lạ của tâm hồn, của sự tỉnh thức, mà không oán than trách cứ gì.

Vườn hoa Phật giáo

 



12:45 am
December 14, 2014


khahan

khahan
Admin

posts 11748

Dòng sữa của mẹ – suối nguồn của tình yêu

Tình Mẹ là một thứ tình thương thật bình thường, mộc mạc không khó hiểu, sâu xa, khúc mắc. Vì tất cả mọi người ai cũng có Mẹ. Ai cũng thấy Mẹ mỗi ngày có gì đâu là lạ. Nhưng có một điều không phải bình thường dễ hiểu là mỗi người chỉ có mỗi một Mẹ mà thôi!

Ảnh minh họa -Nguồn: Internet

Nếu chẳng may có gì xãy ra với Mẹ, thì không ai có thể thay thế cho Mẹ được, cho dù có đi hết cả vòng trái đất để tìm.

“Ngàn đóa hồng thơm con kính dâng lên người, mẹ hiền.
Vu lan lại về xao xuyến tận đáy lòng chúng con
Một nhành hoa đơn sơ thay cho ngàn câu nói
Lòng trẻ chúng con luôn biết ơn mẹ hiền

Lòng hiếu thảo của Ngài đã được nhắc nhở, truyền tụng cách đây hơn hai ngàn năm trăm năm, mà bây giờ vẫn còn mãi, và có lẽ sẽ mãi mãi mà thôi.

Bởi hình ảnh hiếu hạnh cao đẹp như vậy, nên người Phật tử nào cũng đều ít nhiều nghĩ về Vu Lan trong mùa tháng bảy. Và hễ nghĩ về Vu Lan hẳn phải nghĩ về Mẹ. Nghĩ về Mẹ để được uống lại mật ngọt tình thương; nghĩ về Mẹ để được no đầy dòng sữa thương cảm.

"Dấu chấm" như những giọt cam lồ hay dòng sữa ngọt ngào của mẹ và bất kì ai sinh ra trên đời điều cần đến từng giọt tình thương đó. Dấu chấm ấy không bao giờ vắt cạn khô, bầy trẻ thơ ngây có thể tận hưởng nguồn suối mát ấy cho tới khi khôn lớn, như món quà có bấy nhiêu mẹ cũng dành cho cuộc đời và sự sống!

Tình Mẹ là một thứ tình thương thật bình thường, mộc mạc không khó hiểu, sâu xa, khúc mắc. Vì tất cả mọi người ai cũng có Mẹ. Ai cũng thấy Mẹ mỗi ngày có gì đâu là lạ. Nhưng có một điều không phải bình thường dễ hiểu là mỗi người chỉ có mỗi một Mẹ mà thôi ! Nếu chẳng may có gì xãy ra với Mẹ, thì không ai có thể thay thế cho Mẹ được, cho dù có đi hết cả vòng trái đất để tìm.

Do vậy tình thương Mẹ nghe thật đơn sơ nhưng không đơn sơ, nghe thật bình thường nhưng không bình thường, mà phải nói tình thương về Mẹ là huyền diệu, cao cả nhất trên thế gian nầy.
Trong Kinh Tương Ưng Bộ, đức Phật có nhắc nhở, dạy cho các vị Tỳ Kheo về công lao to lớn của Mẹ, ví qua những hình ảnh không thể nghĩ bàn: "Này các Tỳ Kheo, sữa Mẹ mà các thầy đã uống trong suốt quá trình cuộc sống luân hồi nhiều hơn nước trong đại dương".

“Mẹ hiền ơi! Bao năm an vui bên Mẹ
Nay Mẹ đã già, đàn con cũng đều khôn lớn
Xin nhớ mãi trong tim những lời ru thiết tha của Mẹ
khắc ghi trong cuộc đời ơn Mẹ biển trời mênh mông”

Có lúc con phải thốt lên “Chắp đôi tay lại để viết nên những dòng chảy của tình yêu bên Mẹ! thời gian sẽ qua đi nhưng Bóng Mẹ thân thương ấy, sẽ ẩn hiện trong mỗi tâm thức bình an cùng đi bên đời của con. Con lại nhìn thấy Mẹ một lần nữa trên mỗi con đường, trên đóa hoa hồng thắm tinh khôi".

Ðã biết về Mẹ, nhưng còn tình Cha thì sao? Tình Cha cũng lại vô cùng. Có ai mất Cha mà đã không buồn khóc chăng? Có ai đã dằn được xúc động khi bất chợt thoáng nhìn nét nhăn lo lắng hằn trên mặt của Cha vì buồn lo cho vợ con chăng? Và có ai lại không sung sướng khi được Cha xoa đầu thương nựng chăng?

"Công Cha như núi Thái Sơn, nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chãy ra …"

Vậy thì tình Mẹ càng sâu thì tình Cha càng rộng. Nhắc đến hai đấng sanh thành đức Phật lại dạy thêm, theo Kinh Tăng Chi:

"Này các Tỳ Kheo, Như Lai nói có hai hạng người khó thể trả ơn được là Mẹ và Cha. Này các Tỳ Kheo nếu để Cha Mẹ trên đôi vai suốt cả năm, đấm bóp, thoa xức, tắm rữa và dù Cha Mẹ có phóng uế trên người cũng không nhòm gớm, làm như vậy cũng chưa gọi là đền ơn tròn đủ…"

Và đã sinh ra giữa lòng cuộc đời, thì bất cứ ai cũng có một mái nhà, nơi đó luôn hiện hữu một tình thương chân thật, không điều kiện. Người mẹ nuôi con không biết đong đếm thời gian. Cứ mỗi lần ở xa về hay đi học về, con luôn nhìn vào gương mặt hiền thục, đầy ấm áp của mẹ thật lâu. Con thường trân quý sự có mặt của mẹ ở trong căn nhà, trong từng phút giây.

Đây cũng là cách con đón lấy tình thương của mẹ một cách sâu sắc hơn, như có một câu nói “Mẹ là cánh cửa tình thương bất tận”. Con cũng luôn nhớ về một làng quê bạt ngàn lúa chín, mùi thơm của cát trắng mà bao tháng ngày mẹ luôn chắc chiu nuôi dưỡng cho con nên người.

Lại có thêm về một định nghĩa “Em bé, trẻ nhỏ thương Mẹ, yêu Mẹ đã đành, mà người lớn, trưởng thành cũng thương Mẹ không kém em bé. Em nhỏ thương Mẹ để được gần Mẹ đòi quà, đòi bánh. Người lớn thương Mẹ, gần Mẹ để được ngắm, được nhìn.

Tình thương của em nhỏ bộc lộ rõ ràng. Tình thương của người lớn đối với Mẹ thì âm thầm, sâu kín. Em nhỏ giận Mẹ thì khóc. Người lớn giận Mẹ bỏ đi. Nhưng em nhỏ sẽ không khóc mãi và người lớn cũng phải quay về thăm Mẹ”.

Đó là cái hạnh phúc của mình là khi Mẹ còn sống, còn lắng nghe hơi thở. Chính ngày hôm nay, lòng biết ơn của tôi dành cho Mẹ thật nhiều, thật nhiều, nhiều lắm…! Một chén trà hay giọt mưa thơm, khi tôi biết ngồi yên để ngắm vầng mây trắng bay ngang và dáng Mẹ ẩn tàng trong ánh nắng bình minh. Xin giây phút đẹp nhất, vẫn là Mẹ đang hiện hữu như cánh sen thoang thoảng giữa đồng nội quê nhà.

Vườn hoa Phật giáo
 



12:48 am
December 14, 2014


khahan

khahan
Admin

posts 11748

Có tình yêu nào hơn tình yêu của Cha và Mẹ

Tháng Bảy lại về, mùa báo hiếu lại đến. Không khí se lạnh của những ngày đầu thu làm cho chúng ta cảm thấy chạnh lòng nghĩ về cuộc đời, nghĩ về mẹ – về cha và cả Ông bà quá cố của chúng ta.

Ảnh minh họa -Nguồn: Internet

Khi đến mùa báo hiếu Vu Lan, con lại ngơ ngẩn bồi hồi nghĩ về mẹ. “Mẹ” là tiếng gọi mà từ khi ấu thơ con bập bẹ, và theo cả cuộc đời con, con vẫn gọi nhưng chẳng mấy ai hiểu được ý nghĩa thiêng liêng, chiều sâu và bến bờ của tiếng gọi đó.

Phải chăng trong trái tim của mỗi chúng ta, mẹ gần gũi và quen thuộc…. và mẹ chính là đôi mắt sáng, là bờ vai, là giọng nói ấm áp, là cơm ăn, áo mặc, mẹ cũng là quê hương, là bến bờ chờ đợi con về sau mỗi khó khăn, vấp ngã hay là khi con thành đạt, vinh danh…. 

Suốt cả cuộc đời, tấm thân gầy của mẹ chỉ biết sống, hy sinh cho hạnh phúc của con, vì con mà mẹ chịu bao vất vả gian nan và cay đắng nghiệt ngã. Trong giông tố mẹ bảo bọc đời con, mẹ là ánh sáng soi đường, mẹ vô hình trong mỗi bước chân con, để con không bị lạc giữa đêm dài tăm tối.

Nhiều lúc con như rơi xuống hố sâu tuyệt vọng trước những cạm bẫy nghiệt ngã của cuộc đời. Mẹ luôn là người có mặt bên con dắt dìu, an ủi, động viên, chắp cho con đôi cánh của niềm tin và hy vọng để con có nghị lực vươn lên đối mặt và tranh đấu cho sự sống vĩnh hằng.

“Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình” – Vâng! Biển Thái Bình mênh mông nước thì tình thương yêu của mẹ dành cho con cũng dạt dào như thế. 

Với tình yêu thương, sự hy sinh vô bờ bến đó có lẽ chỉ những ai làm cha, làm mẹ mới có thể thấu hiểu 1 cách trọn vẹn nỗi đắng cay cơ cực hay sự thống khổ đoạn trường của mẹ cha. Cô giáo Hồng Vân khi chăm con cũng đã công nhận: “Có con mới hiểu lòng cha mẹ” – Và bao người mẹ khác khi làm mẹ mới hiểu được. 

Dòng thời gian cứ trôi, con của cha mẹ ngày càng lớn khôn và chúng con cũng dần dần phải xa cha mẹ. Tuổi thanh xuân tươi tắn hồn nhiên của chúng con được đắp đổi bằng những nếp nhăn trên gò má già nua kiệt sức, tiều tụy của cha mẹ.

Sự khôn lớn của chúng con là nỗi cay đắng, gian nan vất vả của cha mẹ, vì sợ con mình thua chúng kém bạn mà cha mẹ phải lao tâm khổ trí, buôn tảo bán tần không ngại gian lao, không nề khó nhọc, thức khuya dậy sớm, một nắng hai sương …. Vất vả ngược xuôi, mẹ cha vật lộn với đời cho con manh áo, miếng cơm, cái chữ… Dáng còng của cha dạy cho con sự nhẫn nại, kiên trì biết vươn lên trong cuộc sống, đôi vai mẹ hao gầy, khô cứng để con được cơm no, mặc ấm, được giấc say nồng.

“Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối 
Lưng đưa nôi và tim hát thành lời”

“Thương con cha cực trăm chiều 
Đầu đêm sương trắng chịu nhiều gian truân 
Thức khuya dậy sớm tảo tần 
Con thành trai tráng cho còng lưng cha” 

Tình yêu thương của cha bao giờ cũng kín đáo, cứng rắn và nghiêm khắc. Trái tim cha luôn luôn phải se lại, Cha trở nên một người lạnh lùng, nghiêm khắc trong ánh mắt nhìn con, lời nói của cha cứng rắn mỗi khi cha giáo dục cho con. Cha muốn con lắng nghe để hiểu, bởi:

“Cá không ăn muối cá ươn
Con cãi cha mẹ trăm đường con hư”

Cha mẹ không muốn con sa đọa về tâm hồn và chìm đắm trong những thú vui vô bổ, cha mẹ luôn mong muốn tâm hồn con trong sáng, con chăm chỉ học hành để cha mẹ tự hào về con, được sung sướng khi thấy con mình vững vàng, thành đạt trong cuộc sống.

Dường như điều gì tốt đẹp nhất cha mẹ cũng dành tất cả cho con cái. Tuy nhiên con cái không phải do cha mẹ lựa chọn mà được, không phải người con nào cũng ngoan ngoãn, giỏi giang mà có người bản tính vốn không tốt, nên đã không chịu tu luyện bản thân mà còn bất hiếu với mẹ cha, không nghe lời, sẵn sàng bỏ bê không chăm sóc lúc cha mẹ về già, thậm chí coi là gánh nặng mà bạc đãi mẹ cha. 

Nhưng dù thế nào không bao giờ cha mẹ từ bỏ con cái, tình thương ấy tuôn trào như dòng nước bất tận vỗ về lên đời chúng con, ngay cả khi mẹ cha đã sức cùng lực kiệt.

Sự bao dung và độ lượng của cha mẹ làm cho trong sâu thẩm tự đáy lòng của chúng con trào dâng niềm rai rứt xót xa. Tình nghĩa ấy, ân đức ấy lời lẽ nào nói cho hết, bút mực nào tả cho cùng.

“ Ngôn ngữ trần gian là túi rách
Đựng sao đầy 2 chữ mẹ cha”

Thủa nằm nôi ai ai cũng được nghe bà, nghe mẹ ầu ơ câu ca dao:

“Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu, mới là đạo con”

Câu ca dao quen thuộc ấy đi theo con trên vạn nẻo đường đời nhưng có mấy ai cảm nhận thật sự ý nghĩa của nó… Vâng! Cha mẹ không bao giờ kể công lao sinh thành, dưỡng dục. Câu ca dao không chỉ ca ngợi công ơn dưỡng dục của cha mẹ mà đó cũng chính là lời nhắc nhở người con về công cha cao ngất như núi, nghĩa mẹ như suối nguồn trong lành tắm mát đời con, các con nên làm tròn bổn phận làm con. 

Khi khôn lớn thành tài đã bay đi xa, chúng con mấy ai thật lòng nhớ ơn cha mẹ, đền đáp nghĩa sanh thành, chúng con đã quen được sự đùm bọc của cha, chăm sóc của mẹ nên cứ nghĩ rằng đó là bổn phận, là trách nhiệm của me cha mà quên đi ơn nghĩa sâu dày.

Chúng con ích kỷ mãi lo vun vén cho mình, lo xây dựng tương lai mà quên đi cha mẹ đã già, hai mái đầu bạc đang cô đơn tựa của chờ trông con về “khơi ngọn lửa ấm” mong được con trẻ yêu thương chăm sóc, một lời an ủi chân thành tha thiết. Khi thua kém người đời con lại oán cha giận mẹ. Than ôi! Tội bất hiếu thật tày đình biết kể sao cho xiết. Ơn cha mẹ, con chưa một ngày quạt nồng ấp lạnh, nghĩa sinh thành con chưa báo đáp được cho cân. 

Có ai đó đã làm thơ:

"Khi xưa tôi còn nhỏ
Mẹ tôi đã qua đời 
Lần đầu tiên tôi hiểu 
Thân phận trẻ mồ côi 
Quanh tôi ai cũng khóc 
Thầm lặng tôi sầu thôi 
Để dòng nước mắt chảy
Là bớt khổ đi rồi 
Hoàng hôn phủ trên mẹ
Chuông chùa nhẹ rơi rơi
Tôi thấy tôi mất mẹ
Là mất cả bầu trời"

Giờ đây con mới cảm nhận được sự cô độc, lạnh lùng khi thiếu tình thương vô bờ của cha mẹ. Ai sẽ là người dỗ dành an ủi lúc buồn đau, ai nâng đỡ khi dòng đời xô đẩy? Chỉ cha mẹ là hy sinh tất cả cho con mà không đòi hỏi đáp đền.

Cha mẹ là bến đổ bình yên, là cội nguồn yêu thương hạnh phúc. Không cha không mẹ là nỗi đau lớn nhất, bất hạnh nhất mà không gì có thể bù đắp được. Hạnh phúc thay khi còn cha mẹ, khi được cài bông hồng đỏ thắm tình yêu thương!

Vu Lan – những đôi mắt đang rưng rưng lệ khi nhìn màu hoa trắng. Hoa trắng, hoa trắng mẹ đã không còn. Hoa trắng được cài lên áo con. Đã bao mùa Vu Lan con nhặt hoa trắng bao lần – con nhặt nỗi đau quặn thắt.

Mẹ ơi! vậy mà sao con vẫn thấy ngỡ ngàng, hụt hẫng khi nhìn màu hoa trắng tang thương. Nỗi đau bơ vơ mất mẹ lại ùa về như gió mùa thu. Tiếng chuông chùa vang lên, con lại muốn đi tìm mẹ nhưng biết tìm đâu? Vu Lan về, và con đi tìm mẹ trong ký ức, con tìm mẹ trong nỗi nhớ, trong những giấc mơ….

Chuông chùa trầm hùng ngân nga vang vọng như thức tỉnh chúng con quay về với đời sống thực tại, để lắng nghe, để hiểu và để cảm nhận ngọn nguồn yêu thương cao cả. Chúng con xin quì gối gửi lời cám ơn chân thành tới cha mẹ, đơn giản vì cha mẹ đã cho con được làm con của cha mẹ.

Chúng con xin cám ơn ông bà vì những lúc cha mẹ bận làm việc đồng áng chưa kịp về ông bà đã bế ngửa con lên để gội đầu cho khỏi nước vào mắt, là những bữa cơm ông bà nịnh khéo để cháu ăn, là những bước đi đầu đời ông bà luôn hoan hô khích lệ con…

Con có ông bà, cha mẹ nên con được sống trong tình yêu thương của gia đình, đã dạy con biết nói lời xin lỗi, dạy con bài học về lòng nhân ái và sự vị tha, con biết cách đứng lên trên thất bại của cuộc đời….

“Ai còn mẹ xin đừng làm mẹ khóc
Đừng để buồn lên mắt mẹ nghe không”

Nếu còn cha mẹ, bạn hãy sung sướng và tự hào rằng mình là người hạnh phúc nhất, hãy cài cho nhau trên ngực áo một đóa hồng tươi thắm. Nếu bất hạnh vì đã mất mẹ mất cha thì hãy chia sẻ nỗi đau cho nhau bằng một đóa hoa màu trắng tinh khôi. Hãy cài hoa và hướng nguyện về người bằng tất cả những gì cao đẹp nhất trên cõi đời này!

Vườn hoa Phật giáo


12:52 am
December 14, 2014


khahan

khahan
Admin

posts 11748

Viết bằng cả yêu thương

Có người nói với con rằng: “nổi đau ngày hôm nay có thể vẫn còn tồn tại trong chúng ta nhưng hãy nghĩ mọi thứ rồi sẽ qua thôi vì đơn giản vì chúng ta phải bước tiếp”. Cha hãy cùng con đi đến hết con đường phía trước cha nhé!

Ảnh minh họa -Nguồn: Internet

Gửi cha thân yêu của con!

Con biết sẽ không bao giờ cha nghe được lời con nói nữa nhưng con vẫn muốn nói với cha rằng: “ con gái của cha lớn thật rồi!”.Cha còn nhớ không, hôm nay là sinh nhật con gái yêu của cha đó! Hằng năm, vào đúng ngày này cha vẫn thường tặng con tấm thiệp sinh nhật cùng với những lời nhắn yêu thương, cha luôn làm con bất ngờ với món quà cha tự chế.

Con sẽ phải trầm trồ khen ngợi, ôm lấy cha mà hôn cho xuể rồi reo lên trong niềm hạnh phúc: “cha của con thật là tuyệt vời!”. Nhưng năm nay sao con đợi mãi, đợi mãi mà không thấy quà của cha, con giận cha lắm đó! “Cha không thể gửi quà cho con từ một nơi xa như thế!”. Rồi con tự an ủi mình bằng những giọt nước mắt lăn dài trên gò má…

Cha của con đã đi xa lắm! Đi về nơi con chưa từng biết đến, cha cũng chưa từng kể con nghe. Ngày cha đi, cả bầu trời như đổ ầm xuống, trước mắt con chỉ còn một màu đen của màn đêm, trái tim con vỡ vụn rồi chợt tan biến, ánh mắt lờ đờ nhìn di ảnh mà không dám tin đây là người con yêu thương nhất trên cõi đời này.

Không. Cha không chết, cha chỉ đi xa thôi, đúng không cha? Con biết cha vẫn luôn ở bên con, ủ ấm tâm hồn con, cha vẫn hằng đêm ngắm con ngủ, “con gái ngủ trông xấu lắm!”…Lời của cha rót vào trái tim con những yêu thương mà mỗi khi nhớ về con thấy lòng mình ấm áp đến lạ kì. Cha đi nhưng yêu thương với con luôn còn lại mãi, hôm nay và về sau…

Cha ơi!, con thèm khát được một lần nghe thấy tiếng cha trả lời, thèm được nũng nịu, thèm được ôm ấp, được vỗ về. Mỗi lần như thế con thấy mình thật nhỏ bé, mà đúng hơn với cha con chưa bao giờ lớn. Cha vẫn thường nói: “con gái lớn rồi mà suốt ngày nũng nịu, người ta cười cho đấy!”, cha chỉ nói thế thôi rồi lại kéo con vào lòng, vuốt ve mái tóc, nhẹ hôn lên vầng trán con…Con thèm “được” cha phạt đứng khoanh tay nơi góc nhà cả tiếng đồng hồ, con thèm được có người lo lắng, được hỏi han, được mắng yêu.

Con nhớ có lần con la cà với chúng bạn đến quên giờ về, cả nhà vì con mà lo lắng, hốt hoảng đi tìm, nhìn thấy con việc đầu tiên của cha là ôm con và hỏi “ con có làm sao không? Cha lo quá…”.

Con gái cha hư lắm nên suốt ngày làm cha phải lo, con bày ra hết trò này đến trò khác để rồi người đứng sau giải quyết lại là cha…Con xin lỗi!…Cha vẫn đứng đó dưới mái hiên đợi con về! con nghe thấy tiếng cha thở, hơi thở cha quyện vào cùng hơi thở con nghe tràn trề hạnh phúc, vòng tay cha ôm lấy con mỗi đem đông lạnh giá? Giờ đây, nơi đó không có con cha có lạnh không? Đừng buồn cha nhé, con gái luôn ở bên cha mà…

Ngày hôm nay, con cùng mẹ đến thăm nhà mới của cha, cỏ mọc lên nhiều rồi, cha thường nói cha thích cây xanh nên con để thế cho mát ngôi nhà cha nhé! Cha đừng mắng con lười nha! Con hát cho cha nghe bài hát cha thích nhất, dở lắm nên cha đừng cười con: “Tình cha ấm áp như vầng Thái dương/ ngọt ngào như dòng nước trôi đầu nguồn/ suốt đời vì con gian lao/ ân tình đậm sâu bao nhiêu/ cha hỡi! cha già dấu yêu…”.

Nước mắt con không rơi thành dòng nữa cha à! Con thấy nó rỉ từng giọt ngược vào lòng, len lỏi vào khắp tế bào của con rồi… Con không khóc nhè nữa đâu! Con lớn rồi mà! Người ta vẫn thường nói với con rằng hãy cố gắng đóng khung quá khứ và sống với hiện tại nhưng con sẽ không làm như thế. Làm sao con quên được những ngày tháng bên cạnh cha, những giấc mơ tuyệt vời luôn có hình bóng cha yêu, những giây phút ngọt ngào đó với con là mãi mãi cha à!

Con cảm ơn cuộc đời đã cho con được làm con gái của cha, dù rất ngắn ngủi so với một đời người. Con cảm ơn cha đã cho con sự sống, đã ở bên con những khi con vui, khi con buồn, khi con yếu lòng gục ngã. Và bây giờ con gái cha đã lớn rồi.

Con đã biết tự đứng vững trên đôi chân của mình, biết cách ứng xử với mọi người, biết chăm sóc bản thân,biết tự nhận trách nhiệm với những chuyện mình gây ra, con không còn ngỗ ngược như trước nữa, tuy vẫn còn vụng về lắm… Người ta vẫn khen con ngoan, khen con có bản lĩnh…cha có nghe họ nói không, con biết cha sẽ vui và tự hào về con mà. Cha hãy tin con gái của cha nhé! Con sẽ làm được!

Cha à! Điều quý giá của con lúc này đó là Mẹ, con trân quý từng ngày bên mẹ, bên các em thơ. Con lo lắng nếu lỡ một ngày… Con không dám nghĩ tiếp nữa cha à!…Nỗi lo lắng của con tăng lên gấp bội những lúc mẹ ốm, mẹ ho, con thương mẹ đứt gánh giữa đường để rồi thân mẹ phải chèo chống, cái vất vả, khó khăn đè nặng lên đôi vai mẹ. Giờ đây mẹ chỉ còn một mình, phải vừa làm cha lại vừa làm mẹ, cha có hiểu nổi vất vả của mẹ không?

Con thấy mẹ gầy đi nhiều, những nếp nhăn hiện rõ trên khuôn mặt phúc hậu hằn lên vẻ suy tư. Hằng đêm con vẫn thấy mẹ khóc dù rằng mẹ vẫn nói với con phải mỉm cười với cuộc đời. Thương cha mẹ, con chỉ biết cố gắng chăm ngoan để không phụ công ơn sinh dưỡng, không phụ những tháng ngày vất vả lo toan, không phụ công ơn trời biển mà đi hết cuộc đời này con cũng không thể đong đếm được…

Trời nhá nhem tối, nắng không còn đùa vui trên những ngọn cỏ, hơi gió lành lạnh kéo về phủ lấy cả không gian. Con về cha nhé! Con biết cha ở lại sẽ buồn nhiều nhưng cha ơi cuộc vui gặp gỡ nào rồi cũng đến lúc chia li,  hạnh phúc trên cuộc đời chẳng bao giờ là trọn vẹn, con sẽ không bi quan vì con biết mình không lạc lõng giữa dòng đời tấp nập này, bởi vì trong tim con đã luôn có hình bóng cha yêu rồi, con còn có mẹ – người luôn đứng sau cổ vũ và tiếp thêm sức mạnh cho con.

Với con giờ đó là một thứ tài sản vô giá, và con thấy lòng mình nhẹ, nhẹ lắm cha ạ. Có người nói với con rằng: “nổi đau ngày hôm nay có thể vẫn còn tồn tại trong chúng ta nhưng hãy nghĩ mọi thứ rồi sẽ qua thôi vì đơn giản vì chúng ta phải bước tiếp”. Cha hãy cùng con đi đến hết con đường phía trước cha nhé!

Con gái yêu cha rất nhiều!

Vườn hoa Phật giáo

 



12:55 am
December 14, 2014


khahan

khahan
Admin

posts 11748

Hạt cơm này con xin dâng mẹ

Bên vỉa hè, phố lạnh, núi nhạt nhòa trong mưa, cùng vài người qua đường đứng trú, nhìn bầu trời ảm đạm, môi em xanh tím, mắt thẩn thờ trong mơ!

Ảnh minh họa -Nguồn: Internet

Chẳng một ai nói gì, như xa lạ với nhau giữa con phố dăm bước, đường ngắn hẹp vội ngăn bóng nhau. Không gian mờ nhạt bị núi đồi níu xuống cho lạnh thêm phố phường. Mỗi người chiếm một góc suy tư riêng mình, cứ sợ ai đó xen vào niềm vui, nẻo khổ của kiếp riêng tư.

Trên đồi, Thân nhìn xuống phía trũng, con đường mòn nhão nhoẹt, cỏ cây khuất lấp, chui sâu trong lau sậy bụi rậm, đến khi mất hút giữa rừng xanh; không ai thấy có sự sống đâu đó giữa bạt ngàn xanh thẫm, – túp lều của ba anh em Thân trú ngụ.
 
Tuy ánh sáng không đủ để xác định giờ giấc, Thân cũng biết trời chiều đang mệt mỏi ẩn mình trong khí lạnh cao nguyên; công nhân hái trà, người làm vườn cà phê, nhớt nhát trong áo quần lao động, đang nóng lòng về cho kịp bữa cơm chiều. Thân che túi nilon đựng hạt cà phê vừa mót được, sợ ai đó trông thấy.

Tuy cũng từng là công nhân hái cà phê thuê, nhưng giờ đây, mót từng hạt rơi rớt ở đồn điền, cứ phập phồng lo sợ bị phát hiện, vu cáo ăn trộm. Trước đây bà chủ không thâu nhận Thân, bởi lẽ làm không đạt năng suất, do ốm yếu.

Từ ngày mẹ mất, cha bỏ nhà đi khi anh em Thân chưa đủ 10 tuổi, Thân tìm cách nuôi hai em. Có lúc đến công quả chùa để xin cơm về cho em; có lúc dắt hai em đi nhặt đồ thừa trong các tiệm ăn. Hai em đến tuổi vào trường, không được học. Thân xin cho hai em đi làm cỏ mướn, vẫn không đủ sống.
 
Sáng nay, đi qua cảnh chùa quen thuộc, nơi mà mỗi chủ nhật đưa hai em đến xem các đoàn sinh Gia Đình Phật Tử sinh hoạt. Hai em rất thích, cười toe toét nhìn các anh chơi trò chơi lớn; nhìn bộ đồ đoàn sinh của các anh chị, anh em Thân nhìn lại áo quần mỏng manh bẩn thỉu của mình, sự thèm thuồng hiện rõ trong khóe mắt.

Có lúc mấy chị gọi vào cho bánh, hôm nay các anh chị treo lá cờ năm màu bay phần phật trong gió, tấm biểu ngữ giăng ngang với hàng chữ: Vu Lan báo hiếu. Thân nhớ lại lúc mẹ còn sống, cũng đưa Thân đến tham dự lễ Vu Lan tại đây. Một năm mẹ mất, anh em Thân không được ai đưa đến chùa.
 
Mưa thưa hột, Thân vội chạy đến cửa hàng tạp hóa, chìa bịch cà phê hạt. Mụ chủ giọng trọ trẹ, không đặt lên cân như mọi khi, phán: chưa được một ký, hai lon gạo nhé. Thân gật đầu, – thưa bà, cho con xin vài cây nhang về thắp cho mẹ.
 
Chui vào chòi tranh, làn khói mỏng manh vờn quanh vách giấy, hai em Thân đang đun bếp luộc rau rừng; lũ nhỏ sáng mắt nhìn túi gạo, reo: – có gạo ăn rồi hả anh, – ừ,  để cúng mẹ đã – Thân đáp.
 
Bàn thờ mẹ nằm trên tấm ván cũ nhặt ngoài bìa rừng. Tấm ảnh mẹ hoen gần phân nửa do nước mưa thấm. Thân nhìn mẹ tâm sự: – mẹ ơi. Vu Lan lại về, chúng con không có mẹ đưa đến chùa, nhưng anh em con luôn có mẹ ở chung trong túp lều nầy.
 
Thân xuống gần suối, cắm nhang với cánh hoa rừng lên mộ bia mẹ rồi lâm râm khấn nguyện.
 
Hai em đã dọn cơm với dĩa rau đặt trên nền đất. Thân dâng một chén lên bàn thờ; khói nhang vờn quanh như thay lời mẹ chứng nhận lòng  thành của bầy con. Mẹ ơi – Hạt cơm nầy, con xin dâng mẹ nhân mùa Vu Lan, xin mẹ hộ trì cho ba anh em con sống qua ngày trong túp lều nầy với mẹ.
 
Bên ngoài, chân trời vẫn âm u sương lạnh, gió núi rì rào trên ngọn cây rừng mang hơi ẩm ướt, như tiếng than thở của chư vong trong mùa xá tội, Thân lặng nghe như tìm tiếng quen thuộc của mẹ mình đâu đây.

Vườn hoa Phật giáo
                                                             


12:58 am
December 14, 2014


khahan

khahan
Admin

posts 11748

Mẹ và những hành trình

Có khi nào trên đường đời xuôi ngược, bạn dừng chân ngoảnh đầu nhìn lại quá khứ và cảm thấy mình thật sự hạnh phúc khi bên đời mình còn có mẹ?

Ảnh minh họa -Nguồn: Internet

Tôi cũng vậy, nếu ngay bây giờ, ai đó dành cho tôi một điều ước thì tôi sẽ ước cho cha mẹ mình khỏe mạnh và luôn được bình yên. Vì tôi tin rằng xung quanh tôi có những người sẽ mãi mãi không bao giờ có thể ước mơ và thực hiện ước mơ đó cho cha mẹ mình nữa.

Mẹ sinh ra con, không ngần ngại chấp nhận đứa con mình mang nặng đẻ đau dù nó có như thế nào, hình hài nó có ra sao. Có nhiều người mẹ vừa trải qua nỗi đau của cơn vượt cạn, vừa cận kề cái chết rình rập trong gang tấc đã phải gồng gánh, lo toan, chạy chữa bệnh tật cho đứa con vừa mới chào đời.

Có những người mẹ chỉ biết lặng lẽ, âm thầm chấp nhận những khiếm khuyết trên cơ thể đứa con bé bỏng, niềm vui đón chào con đến với cuộc đời chẳng sánh bằng nổi đau con không toàn vẹn.

Mẹ chỉ biết nhìn con rồi tự tìm lấy niềm an ủi và nghị lực để tiếp tục chèo chống trước những chông chênh, trắc trở cuộc sống. Mẹ thương con, đó như là một quy luật tất yếu của cuộc sống, nhưng liệu rằng con có thương mẹ nhiều được như mẹ thương con hay không?

Con lớn lên, ngỗ nghịch mẹ cũng chiều, bệnh tật mẹ cũng lo, dù xấu xí thì mẹ vẫn thương. Mẹ lo cho con từng miếng ăn giấc ngủ, từng chiếc áo cái quần, từng cái bút chiếc dép…tất cả  những gì con đang có nhất nhất đều là của mẹ.

Từ hình hài dáng đứng, từ ánh mắt nụ cười của con đều gắn liền với tâm tư của mẹ. Nhờ con mẹ mới có thêm sức mạnh để bươn chãi giữa dòng đời muộn phiền, cay đắng.

Hành trình đời mẹ còn lắm vất vả, nhọc nhằn nhưng khi nhìn những đứa con thơ còn đang tuổi ăn tuổi học, mẹ lại tiếp tục chịu khó làm việc, chịu khó bươn chãi chỉ mong rằng trên môi con luôn rạng rỡ nụ cười, chỉ mong con có cái ăn cái mặc cho bằng bạn bằng bè. Con là chỗ dựa tinh thần, là động lực sống, là niềm hi vọng lớn nhất của đời mẹ.

Mẹ loay hoay trong dòng đời chỉ đi để tìm câu trả lời cho cuộc đời của những đứa con thơ. Mẹ nuôi con khôn lớn, lo lắng, chăm bẫm cho con nhưng con nào hay biết. Không biết từ bao giờ mẹ đã quen rồi, quen với đôi tay chai sạn, chiếc áo sờn vai, quen với việc thức khuya dậy sớm, quen với những sóng gió, những giông tố, thách thức, chông chênh của cuộc đời.

Con thấy mẹ khóc nhiều hơn dù rằng mẹ nói với con phải luôn mỉm cười chấp nhận và đối diện với  những khó khăn trong cuộc sống. Mẹ khóc vì đời mẹ chông chênh quá, vì thế cuộc đổi thay, vì giông phụ tình đời, vì thế  nhân có  nhiều người cố ý làm khổ mẹ. Mẹ khóc khi nghĩ đến con thơ, mẹ lo cho tương lai con mình sau này, hạnh phúc hay khổ đau khi trên chặng đường đời còn lắm bon chen và cám dỗ. 

Những nổi đau của mẹ con nào có hay nên cứ mãi loay hoay kiếm tìm những điều xa vời, huyền ảo. Con trôi theo dòng chảy cuộc sống mà quên mất rằng tóc mẹ ngày dần bạc đi, con không để ý đến những nếp nhăn hằn trên khuôn mặt mẹ.

Con bị cuốn theo mớ bòng bong của thời gian đầy hỗn độn, cứ mãi đắm chìm trong quá khứ rồi lại ảo tưởng về tương lai mà quên mất rằng ngày hôm nay bên mình còn có mẹ. Mẹ quen với nỗi nhọc nhằn còn con…con quen rồi với việc được mẹ chiều chuộng, chăm sóc mỗi ngày. “Mẹ ơi áo con rách”, “Mẹ ơi con đói”, “Mẹ ơi con hết tiền”… “Mẹ ơi…” với những yêu cầu mà con cứ ngộ nhận rằng đó chính là nhiệm vụ của người làm mẹ. Tất cả những yêu cầu ấy của con đều được mẹ đáp ứng, đầy đủ và chu toàn.

Thế nhưng đã bao giờ con nhìn thẳng vào mắt mẹ, nhìn thật kĩ thật sâu bằng cả tấm lòng yêu thương để thấy “con mỗi ngày một lớn lên, mẹ mỗi ngày thêm già cỗi ”. Con có biết rằng mỗi nếp nhăn trên khuôn mặt mẹ là một chặng đường dài vất vả mẹ vì con và mỗi nụ cười của con là sự đánh đổi bằng cả những khó khăn lam lũ mẹ phải gồng mình chịu đựng.

Đã bao giờ con nói với mẹ “Mẹ ơi, con thương mẹ lắm” hay “Mẹ có mệt không?” chưa? Những người con hãy tập làm điều đó vì nếu lỡ ngày mai mẹ không thể nghe được những lời yêu thương, những vòng tay con ôm mẹ thật êm. Nếu ngày đó đến con sẽ như thế nào?

Con và mẹ hiện diện trong cuộc đời này là một phép nhiệm màu. Mẹ là món quà vô giá mà cuộc đời ban tặng cho con, còn con là tất cả của cuộc đời mẹ. Trong những giây phút đối diện với khổ đau con biết rằng mẹ vẫn là chỗ dựa an toàn nhất cho cuộc đời của con. “Con đi đâu, con về đâu, cuộc đời của mẹ là câu trả lời”. 

Thật may mắn khi mỗi độ Vu lan về con được cài lên ngực một bông hoa hồng tươi thắm bởi con biết ngoài kia còn bao đứa trẻ bất hạnh – gia đình là điều xa vời mà chúng không bao giờ có được, những đứa trẻ thèm khát được vỗ về, âu yếm, những đứa trẻ ao ước chỉ một lần trong đời biết được gương mặt cha mẹ mình như thế nào, dáng vóc họ ra sao, những đứa trẻ mùa Vu lan về lại đau xót cài lên ngực bông hoa trắng lạnh lẽo, cô đơn… “Con không khóc khi cài hoa trắng/ vì trong hoa con thấy mẹ đang cười”. Mẹ là cả bầu trời, là ánh sáng, là vầng  trăng, là bóng mây che mát cuộc đời con.

Con sẽ không đợi một ngày kia
Khi mẹ mất đi mới giât mình khóc lóc
Những dòng sông trôi đi có trở lại bao giờ
Con hốt hoảng trước thời gian khắc nghiệt
Chạy điên cuồng qua tuổi mẹ già nua
Mỗi ngày qua con lại thấy bơ vơ
Ai níu nổi thời gian
Ai níu nổi?\

Con biết cuộc sống là một chuỗi những thay đổi nối tiếp nhau, con sẽ cố gắng thích nghi với nó dù đôi khi phải đánh đổi bằng cả nước mắt và niềm đau nhưng con tin sau những nổi khổ niềm đau đó là thành công và nụ cười viên mãn.

Con sẽ đón nhận cuộc sống phía trước vốn không bằng phẳng và nhiều thử thách bằng thái độ tích cực, con sẽ mỉm cười nhiều hơn trước cuộc sống dù cho nó cam go và gian khổ đến đâu.Những trải nghiệm, những bài học trong quá khứ sẽ là hành trang  con bước vào tương lai và con sẽ thực hiện những ước mơ hoài bão của mình ngay từ hôm nay mẹ ạ!

Mẹ thân yêu! Hãy luôn ở bên con, bước cùng con, tiếp thêm cho con sức mạnh trên con đường dài phía trước. Con cảm ơn đời đã cho con có mẹ – là món quà vô giá và duy nhất trên đời.

Vườn hoa Phật giáo



1:01 am
December 14, 2014


khahan

khahan
Admin

posts 11748

Thay đổi cách nhìn phiền não bằng con mắt thứ ba

Trong cuộc sống hằng ngày, có ai tránh khỏi những hoàn cảnh trái ý nghịch lòng, khiến ta phải khổ đau, phiền não.

Ảnh minh họa -Nguồn: Internet

Ðó là vì tâm yếu đuối của chúng ta không thể xem chướng ngại như cơ hội để ta rèn giới hạnh, đón nhận phiền não như là nhân của quả hạnh phúc. Nếu không thể chấp nhận cách suy nghĩ nầy, ta không thể luyện tâm có được cái nhìn như thế.

Thay vì xem những điều không như ý do chúng sanh hữu hình hay vô hình mang đến cho ta là phiền não, ta cần huân tập thói quen xem chúng là cơ hội để tu tập của ta, là nhân đưa đến hạnh phúc.

Muốn đưọc thế, bước đầu ta tập chấp nhận những việc trái ý nhỏ, rồi dần dần khi đã quen, ta sẽ có thể đón nhận những thất vọng, phiền não lớn hơn, không để chúng làm tâm ta xao động. Lúc đó ta sẽ hoan hỉ đón nhận chướng ngại, mà không theo thói thường tình là tìm đủ mọi cách để trốn tránh chúng.

Thực tập chuyển hóa tâm như thế không phải là để phiền não, khổ đau không xảy đến cho ta nữa, mà là để ta có thể dùng phiền não, khổ đau phát triển tâm trên con đường đi đến giác ngộ. Không phải là ta không còn kẻ thù, không còn bịnh hoạn, mà là ta không còn để chúng làm tâm ta bị phiền não. Ta không để chúng làm cản trở công việc tu hành của ta. Hơn thế nữa chúng còn giúp ta phát triển tâm, để ta càng gắng công tu hành hơn.

Phiền não, khổ đau làm thế nào giúp được cho việc tu hành của ta? Muốn được thế, ta cần phải luyện tâm bằng hai phương cách. Trước hết, ta cần phải bỏ thái độ chống đối, tránh né phiền não, khổ đau, thứ đến ta cần phải luyện tâm chấp nhận mọi phiền não, khổ đau bằng thái độ an nhiên, tự tại.

Khi thực hành thành công, có nghĩa là khi ta thực sự cảm thấy an lạc, chứ không phải khổ sở khi đối mặt với phiền não, thì lúc đó phiền não không còn là chướng ngại trên đường tiến tới giác ngộ.

Tai Hại Của Tâm Tiêu Cực

Tất cả chúng ta đều có thể bị quấy rầy bởi những chúng sanh quanh ta. Khi tâm còn có thói quen chỉ nhìn thấy khía cạnh phiền não của mọi vấn đề, ta càng thấy hình như những hoàn cảnh không thuận lợi thường xảy đến cho ta. Ta gặp những người chống đối ta nhiều hơn.

Nếu chỉ những việc nhỏ nhặt, không quan trọng cũng có thể khiến tâm đau khổ, ta sẽ trở nên một người dễ cáu gắt. Nguyên nhân chính của vấn đề là tâm cùng cực ích kỷ của ta.

Khi chúng ta nhìn mọi thứ như đều có vấn đề, thì việc nhỏ mọn như phải ăn đồ nguội lạnh cũng khiến tâm ta bất ổn. Cách ăn mặc, vẻ dáng của người khác nếu không hợp mắt ta, cũng khiến ta bực bội, khó chịu.

Tiếng ồn trong đêm khuya đánh thức ta dậy cũng khiến ta nổi giận. Ðể rồi suốt ngày hôm sau, người chung quanh phải nghe ta ca cẩm: "Ðêm hôm qua tôi không thể ngủ được vì thứ nầy, thứ kia…". Chỉ ngủ không đủ giấc cũng đã là một vấn đề, một phiền não không thể tưởng được.

Bản tánh của tâm là thường suy nghĩ theo thói quen. Khi ta có thói quen xem tất cả mọi việc gì không theo đúng ý mình là có vấn đề, thì việc nhỏ cũng thành vấn đề lớn. Tâm ta do đó luôn cảm thấy nặng nề, đau khổ.

Khiến ta không thể chịu đựng được gì. Tất cả mọi người, mọi việc đều trở thành kẻ thù, chướng ngại cho ta. Tất cả những gì ta nghe, thấy, ngữi, sờ, nghĩ đều khiến ta bực bội. Cuộc đời ta dần dần sẽ đầy những khổ đau, chán nản, nghi ngờ, đưa đến sụp đổ tinh thần. Ta sẽ khó có thể được hạnh phúc dầu chỉ một ngày, hay một giờ.

Tuy nhiên vì không biết tất cả là do lỗi của ta, do thói quen suy nghĩ của tâm, ta quay qua đổ lỗi cho người khác, cho hoàn cảnh bên ngoài.

Và càng nghĩ là tại lỗi của người khác, ta càng thấy thêm tức giận, khổ đau. Giống như đổ dầu thêm vào ngọn lửa đang cháy. Các bậc thánh thì trái lại, đều coi mọi người là bạn, bất cứ việc gì xảy đến, họ đều chấp nhận được. Tất cả đều là duyên lành, tất cả đều là không.

Hãy Chuyển Hóa Tâm:

Khi bạn gặp chướng ngại gì, đừng quên xét đến những khía cạnh tích cực của chúng, và hãy nhớ thực hành từ bi hỉ xả, thì mọi việc đều trở nên dể chấp nhận hơn. Lúc đó, chướng ngại không còn làm bạn đau khổ nữa.

Dầu bạn có bao nhiêu vấn đề, cũng không cần phải để chúng bận tâm bạn. Khi phải đối mặt với những việc không như ý, điều quan trọng là hãy nghĩ đến những khổ đau, bực bội bạn phải gánh chịu, nếu như bạn có thái độ không chấp nhận chúng.

Nên nhớ, có những hoàn cảnh ta có thể sữa đổi, nhưng cũng có những cảnh ngộ, ta phải chấp nhận chứ không thể làm gì khác hơn. Thí dụ, dầu bạn có ước ao thế nào căn nhà của bạn cũng không thể biến thành vàng. Mặt đất không thể thành mặt trời hay ngược lại. Vậy tại sao phải để chúng làm ta bực bội, tức giận?

Dầu cho việc gì xảy ra, hãy tự nhủ: "Ðây là một cơ hội cho ta tu tập". Ngay đối với các tai nạn như bị rắn cắn, dầu vết thương có bị mổ sẻ, ta cũng cần nhớ là ta đã may mắn được cứu sống.

Hãy suy gẫm về những kinh nghiệm sống của ta, về những gì mà ta coi là vấn đề và hậu quả của cách suy nghĩ đó. Dựa vào đó, hãy lập quyết tâm rằng: "Từ bây giờ, dù gặp hoàn cảnh gì, tôi cũng không để tâm phải phiền não vì chúng. Tôi sẽ tiếp nhận mọi chướng ngại với một thái độ tích cực hơn". Thái độ cứng rắn, quyết tâm như thế rất cần cho ta.

Quyết tâm đó sẽ thúc đẩy ta tinh tấn luyện tâm như người nài kiên nhẫn tập luyện con ngựa của mình. Dầu gặp chướng ngại, lúc nào người nài cũng cố gắng làm chủ con ngựa, để không bị té ngã, ảnh hưởng đến mạng sống của mình.

Người này có thể làm được điều đó, do cơ thể anh đã trở nên thuần thục với mọi động tác của ngựa. Cũng thế, khi gặp chướng ngại hay hoàn cảnh khó khăn, ta phải nhanh chóng chấp nhận chúng một cách an nhiên, không để chúng xáo động tâm ta.

Thái độ chấp nhận chướng ngại cần phải an nhiên như thể ta đón nhận món quà, hay thưởng thức âm nhạc. Làm được như thế thì lúc nào ta cũng hạnh phúc dù ta bị phê bình, sống trong nghèo khó, thất bại, bịnh hoạn hay cận kề cái chết. Không có gì có thể làm tâm ta xáo động.

Ta sẽ luôn cảm thấy hạnh phúc. Không cần một cố gắng nào, ta sẽ tự nhiên nhận thấy được những lợi ích của các chướng ngại. Và càng thấy được sự lợi ích của chúng, ta càng không ngại ngần khi đối mặt với chúng.

Xem Chướng Ngại Như Niềm Vui:

Ðiều quan trọng là bạn cần phải chuẩn bị chu đáo trước khi có thể thực sự thực hiện được những điều trên. Có sự luyện tập nhuần nhuyễn thì khi rơi vào nghịch cảnh, ta mới có thể dễ dàng áp dụng phương thức chuyển tâm quen thuộc.

Ðể có thể chuyển phiền não thành an vui, không thể chỉ có thái độ xem phiền não là cách giúp ta tu tập. Như thế vẫn chưa đủ, ta còn cần phải xem phiền não như là một điều kiện tất yếu giúp ta thực hành các đạo hạnh.

Hãy chấm dứt ý nghĩ ghét bỏ các phiền não. Hãy nuôi dưỡng tâm rộng mở đón nhận chúng sẽ giúp tâm được an vui. Bằng cách đó, ta có thể tiếp tục tu tập mà không cảm thấy chán nản, lo âu. Cứ tiếp tục luyện tâm như thế, ta sẽ có thể chuyển đồi tâm ta thành an nhiên tự tại.

Nhờ thế dù ta gặp phải hòan cảnh nào, tâm ta vẫn an nhiên. Có nghĩa là ta dể dàng chấp nhận hoàn cảnh của mình hơn. Ðó là cách giúp ta đối mặt với bịnh tật và những vấn đề khác trong cuộc sống.

Tóm lại, hãy luyện tâm để ta có thể nhìn thấy mặt tích cực của mọi vấn đề. Một hoàn cảnh thuận lợi hay khó khăn, tùy thuộc vào cách nhìn, cách phán đoán sự việc của ta. Hạnh phúc hay khổ đau, tất cả tùy thuộc vào cách nhìn, vào thái độ của ta.

Vườn hoa Phật giáo



1:12 am
December 14, 2014


khahan

khahan
Admin

posts 11748

Âm thanh ngân giữa Vườn hoa

Mỗi sớm mai thức dậy, việc đầu tiên mà bạn làm là gì? Đi bộ thể dục? ra ngoài trời hít hà không khí buổi sáng hay là ngồi ngẫm nghĩ về những điều mà ngày hôm nay mình phải làm?

 

Ảnh minh họa -Nguồn: Internet

Và nếu mỗi sớm mai bạn được lạc vào trong một khu vườn có nhiều âm sắc thanh nhã của cuộc sống, đắm chìm trong những hương thơm tinh khiết và những mùi vị  trong lành của nắng mai. Được lắng mình lại trong những âm thanh trong trẻo và nhẹ nhàng thì liệu tâm hồn bạn có cảm thấy được an nhiên?

Vườn hoa phật giáo – một khu vườn có nhiều loài hoa thơm ngát, những hương thơm thanh nhã nằm trong nền xanh mát của đạo Phật.  Trong khu vườn đó, ngoài những hương sắc thơm mát đó còn có những âm thanh nhẹ nhàng như tiếng hót của chim rừng buổi sáng.

Như tiếng cựa mình thức giấc của những cánh hoa đang chuẩn bị bung nở trong nắng sớm. Nếu một lần đặt chân vào đây, mong bạn đường bước đi vội, hãy để cho sắc, vị và âm của khu vườn thanh lọc và nuôi dưỡng lại cho tâm hồn của bạn.

Khi cánh hoa bung nở cũng là lúc những âm thanh kia được cất lên.

Trong khoảnh vườn dành riêng cho âm thanh mang tên thư viện audio trong khu vườn chung đó, nó được chia thành nhiều thư mục khác nhau như âm nhạc, pháp âm, radio Phật giáo, nhạc chờ Phật giáo.

Trong phần âm nhạc thì có nhạc Phật, nhạc Thiền, nhạc Trịnh, nhạc Niệm Phật, Nhạc Hoa – Anh Phật giáo; trong Pháp âm lại có Kinh tụng Phật giáo, sách nói Phật giáo; có Radio Phật giáo; có nhạc chờ Phật giáo ở nhiều nhà mạng khác nhau.

Một hệ thống tuy chưa thật đầy đủ nhưng cách phân chia thư viện thành nhiều thư mục như thế đã tạo đường dẫn để cho những du khách ghé chân vào khu vườn có thể tìm thấy cho mình được những âm thanh phù hợp nhất để ru hồn mình vào trong thế giới của những thanh nhã và nhẹ nhàng.

Dựa trên tinh thần và nền tảng chung của mục đích khi xây dựng trang web, thư viện audio của trang web mang nhiều màu sắc của Phật giáo. Trên nền tảng đó, ta có thể nhận thấy 2 thể loại nhạc xuất hiện trong thư viện âm thanh của trang.

Trước hết, đó là những kinh tụng và Âm nhạc của đạo Phật.

Những kinh pháp của đạo Phật và những bài hát về đạo Phật là những âm thanh để dành cho những ai muốn được gột rửa và thanh lọc cho tâm hồn mình. Muốn được sống trong những giáo lý và những nền tảng triết lý của Phật giáo.

Những triết lý mang nhiều lẽ sống và đạo làm người, sự nhẫn nhịn, sự chịu đựng để vượt qua mọi buồn đau u phiền, sự bình tâm và tự hiểu mình để tránh những va vấp ở đời và biết mỉm cười cả khi thành công và hay thất bại.

Triết lý của đạo Phật đưa con người ta hướng thiện, hãy nghe và cảm nhận những gì mà kinh Phật mang lại, nếu tập trung thì bạn sẽ cảm thấy mình như đang được ngồi nghe kinh kệ giữa một chốn thiền môn thanh tịnh nào đó ngay trong ngôi nhà của mình.

Sau đó, thứ âm thanh mà ta lắng nghe được ở trong khoảnh vườn âm nhạc của trang chính là nhạc đời – nhạc Trinh. Đó là thứ âm nhạc mà chỉ có những ai đã bước chân vào cuộc sống, có nhiều sự từng trải và thực sự say trong đời thì mới có thể hiểu được.

Có thể sẽ chẳng ai hiểu được tận tất cả những âm nốt và ca từ trong những sáng tác của người nhạc sĩ tài hoa này, nhưng, nếu lắng lòng để nghe và đắm mình trong ca từ của nó thì những giá trị của những âm khúc đó mang lại sẽ làm cho tâm hồn của chúng ta – những người sống trong đời thêm trân quý hơn cuộc sống của mình.

Nhẹ nhàng, du dương và ru đời vào trong nhiều cảm xúc – phải chăng giữa những sáng tác của Trịnh Công Sơn và những nền tảng triết lý cuộc sống của đạo Phật có sự giao thoa kết nối?

Bên cạnh những bản nhạc, những lời ca thì còn có những chủ đề Radio mang nhiều vấn đề của cuộc sống. Bằng giọng đọc mang nhiều cảm xúc, cách truyền tải của từng chủ đề thu hút theo từng nội dung nên đây chính là thư mục được nhiều người quan tâm và đặc biệt chú ý.

Đó là bức tranh tổng quan nhất về khoảnh vườn dành riêng cho âm thanh của vườn hoa Phật giáo. Bức tranh đó tuy không đi sâu vào từng phần, tuy không chỉ rõ những nội dung trong từng thư mục cụ thể nhưng có thể nó sẽ góp phần giúp cho những vị điền khách ghé chân vào đây được dễ dàng tìm kiếm và cảm nhận những giá trị mà nó mang lại.

Hãy đi đi, nó không thể mở ra hết mọi điều cho bạn ở lời mở đầu nhưng ở đằng sau đó là cả một thế giới âm nhạc đang chờ bạn khám phá và thưởng thức..

Nếu bước chân vào Vườn hoa Phật giáo, hãy một lần lắng lại trong những bản nhạc nhẹ nhàng, thanh nhã và du dương kia. Con đường dẫn vào từng bản nhạc đang mở cửa chào đón bạn vào.

Hãy đừng vội vàng, chậm bước lại và lắng lòng mình, mở rộng mọi giác quan để có thể cảm nhận hết những âm nốt mà nó mang lại cho tâm hồn.

Một ngày mới sẽ bắt đầu, cuộc sống tất bật và nhộn nhịp ở ngoài kia đang chờ đón bạn, vậy tại sao không bắt đầu ngày mới bằng những gì thanh nhã nhất trong tâm hồn mình? Vườn hoa phật giáo – khu vườn của âm sắc và hương luôn chào đón bạn bằng những thứ nhẹ nhàng và thanh nhã nhất để mang đến cho bạn một ngày mới an nhiên và thanh bình nhất.

Vườn hoa Phật giáo
 

1:15 am
December 14, 2014


khahan

khahan
Admin

posts 11748

Gởi Mẹ của con người ở nơi rất xa

Mẹ yêu quý à!

Dù năm tháng  có phủ mờ đi tất cả, nhưng với con ngày mẹ ra đi chỉ như với hôm qua thôi, nó còn nguyên trong ký ức về mẹ, về nỗi nhớ mẹ, tình yêu dành cho mẹ, niềm khát khao còn có mẹ, hình bóng của mẹ cả vòng tay và hơi ấm của mẹ… vẫn còn mãi trong trái tim con và ngày mỗi ngày lớn dần lớn dần hơn lên , ngập tràn  trong trái tim con.

 

Ảnh minh họa -Nguồn: Internet

5 năm về trước 2 đêm liền con thức trắng ngồi bên mẹ. Lúc này con vẫn không tin rằng mẹ đã mất, con vẫn cố lừa cảm giác của mình rằng mẹ chỉ đang ngủ thôi. Rồi con lại cầu xin ông trời đừng cướp mẹ đi, con xin ông hãy để mẹ sống hãy lấy tuổi thọ của con sang cho mẹ dù có phải đánh đổi 5 năm hay 10 năm tuổi thọ của con.

Nhưng mẹ cũng sẽ chẳng bao giờ chấp nhận đánh đổi điều đó dù ông trời có đồng ý. Rồi con chợt giật mình khi người ta khâm liệm mẹ và đuổi con ra ngoài vì con cùng tuổi với mẹ thì con đã gào thét không chịu ra, mọi người cũng lôi con ra bằng được, lần này con vẫn lừa bản thân mình rằng mẹ chưa chết, họ đang gọi mẹ dậy thôi.

Đến khi đưa mẹ ra đồng chuẩn bị chôn thì lần này một lần nữa con lại bị mọi người kéo ra ngoài, lần này con chống cự bằng cách đánh tất cả những ai động vào mình không chịu đi dù có rất nhiều người kéo con, lúc đó con chỉ nghĩ được một điều rằng không được để ai chôn vùi mẹ cả. Con cứ vùng vẫy đấm đá gào thét tất cả những ai đang ôm con không cho con vào chỗ mẹ, không đánh được con lại cầu xin mọi người đừng làm thế với mẹ của tôi, cũng chẳng ai thèm nghe con nói.

Họ cứ làm công việc của họ mà chằng thèm để ý đến con, rồi đến khi đắp gần xong mộ mẹ thì họ mới thả con ra con lao đến mộ mẹ  tay thì bới đất, miệng thì khóc xin mọi người đừng làm thế với mẹ.

Mọi người đã không thể tiếp tục nên lôi con ra thật xa chỗ mẹ, con kiệt sức vì hai đêm không ăn, không ngủ nên không còn đủ sức để chống cự nữa, rồi con bất lực nhìn mẹ bị người ta chôn vùi. Lần này con với nhận thấy tim mình đau nhói từ nay con mất mẹ thật rồi.

Con biết dù mẹ ra đi nhưng mẹ vẫn còn nặng trĩu những nỗi lo, mẹ lo cho 3 đứa con của mẹ, mẹ lo cho gia đình từ nay thiếu đi sự chăm sóc của bàn tay người phụ nữ. Mẹ lo 3 anh em có sống tốt, mẹ lo con gái từ nay không có mẹ bảo ban có biết sống và cư xử không có trưởng thành và yêu thương nhau không.

Mẹ ơi mẹ đừng có lo nhé, 3 anh em con sẽ sống thật tốt, yêu thương đùm bọc nhau, con muốn mẹ ra đi trong thanh thản, con muốn dù mẹ có ở bất cứ nơi đâu thì mẹ vẫn luôn khỏe mạnh luôn luôn mỉm cười. Trong 3 anh em con thì mẹ luôn chứa đựng những gì tốt đẹp nhất, ở mẹ là hiện hữu của tình yêu thương bao la. Trong trái tim của con thì mẹ chiếm một phần lớn nhất và thiêng liêng nhất.

Tháng 4 lại về mang cho con cả một khung trời nỗi nhớ. Tháng 4 có hai ngày mà ai cũng mong nhất đó là 30-40 và 1/5, nhưng với con 2 ngày này là hai ngày nhân đôi nỗi nhớ, nhân đôi nỗi buồn .

Tháng 4 của những ngày đầu hè với những ngày nắng nóng và những cơn mưa bất chợt. Con nhớ thời gian đầu khi mẹ mới mất cứ mỗi khi trời mưa con lại khùa tay sang ôm tìm mẹ vì con rất sợ sấm nhưng chẳng thấy mẹ đâu, con như kẻ mộng du chạy ra ngoài hiên tìm mẹ, gọi mẹ, sao mưa mẹ không về mà cứ ở ngoài đồng, rồi chợt con nhận ra là mẹ đã mất, con đã òa khóc gọi mẹ.

Tháng 4 của 5 năm về trước, cũng trên chiếc giường mà từ bé con nằm cùng mẹ, con rất thích gối đầu tay nghe mẹ kể chuyện ngày xửa ngày xưa, chuyện thời học sinh, chuyện ông bà ngoại gả chồng mẹ, chuyện tình yêu của những người làng trên xóm dưới, cả những răn dạy, dặn dò… mẹ nhắm mắt xuôi tay.

Ngày mẹ mất đúng vào ngày 30 -4, một ngày nắng nóng, hôm đó con được nghỉ nên đạp xe về nhà mồ hôi vã ra mặt mũi đỏ bừng, con chạy vào chỗ mẹ, ánh mắt mẹ nhìn con như  như muốn nói điều gì đó nhưng mẹ không còn đủ sức để nói nữa. Mẹ giơ bàn tay gầy lên nắm tay con, con nắm lại và gục vào người mẹ, đây cũng là lần cuối con được cảm nhận hơi ấm của mẹ.

Mẹ mất đất trời cũng đổ mưa buồn bã. Những đứa con của mẹ như những kẻ vô hồn. Bố lẩn thẩn ra ra vào vào với những lời vô nghĩa, chốc chốc lại cười, tiếng cười có nỗi đau cắt cứa tận con tim.

Con hụt hẫng trong khoảng không hư hư thực thực. Con áp cả tấm thân con vào người mẹ. Mẹ vẫn nằm đây, chết là chết làm sao, con không cho mẹ chết, sao lại vô lý thế?

Con cũng không biết vì sao các anh chị lại yêu mẹ nhiều đến thế .?. .Là đàn ông nhưng anh ôm ghì lấy mẹ, đẩy con ra, xô con ra như rằng mẹ là của riêng anh ấy.

Có lẽ không còn được nghe thấy giọng cười tiếng nói của mẹ, không còn được nhìn vào đôi mắt mẹ nữa, thì khi ấy chúng con hay bất kể người con nào mới cảm thấy hụt hẫng bơ vơ, mới cảm thấy mất mẹ như mất cả một bầu trời.

Quả ngon vật lạ muốn mua về biếu mẹ, những niền vui nỗi buồn hàng ngày muốn nói với mẹ ,hay đơn giản chỉ là hỏi mẹ những câu hỏi về tế nhị của con gái mới lớn nhưng mẹ đâu còn nữa để mà nói chứ!

Năm nay, mưa mùa hạ bắt đầu, cái nắng vẫn nhạt nhòa nỗi nhớ và con thấy nhớ mẹ vô cùng mẹ biết không? Mất mẹ rồi con mới biết cái tiếng gọi “mẹ ơi” thiêng liêng và cao quý biết nhường nào. Giờ đây mỗi khi con nhớ mẹ con thèm thèm đến tê người một cái ôm của mẹ, thèm đến điên dại một tiếng gọi“Mẹ ơi, mẹ ơi con đi làm về rồi “, Mẹ ơi mẹ đang làm gì đấy”, “Mẹ ơi mẹ có khỏe không?”, “Mẹ ơi mẹ có đau chân không con bóp chân cho mẹ”, “Mẹ ơi mẹ mắng con đi, mẹ chửi con đi”… Nhưng còn mẹ nữa đâu để mà gọi nữa.

Con khóc, lại phi ra vườn và khóc. Tiếng khóc chất chứa những yêu thương dồn nén từ lâu lắm, chỉ những ai đã mất đi bố, mất đi mẹ thì mới biết nỗi buồn ấy, sự thiếu hụt ấy, sự mất mát ấy, cả cái tủi thân khi thấy những người đang còn mẹ, được làm nũng mẹ hạnh phúc đến nhường nào

15 ngày nữa là tròn 5 năm mẹ con mình xa cách. Âm dương cách biệt nhưng trái tim con luôn nhớ về mẹ. Mẹ cũng nhớ con gái út của mẹ lắm phải không? 5 lần giỗ mẹ nhưng đến hơn 500 nghìn lần con thèm khát một lần nữa thôi được nhìn thấy mẹ bằng da bằng thịt, để con được nói lời cám ơn mẹ đã sinh thành ra con, cảm ơn mẹ đã cho con thật nhiều vốn liếng yêu thương trong cuộc đời này, và để con được một lần hôn lên tay mẹ, đôi tay hôm sớm tảo tần nuôi dạy anh em con.

5 năm mất mẹ con đã thấy mình mất đi cả một bầu trời thương nhớ, cả một khoảng không mà chẳng có niềm hạnh phúc nào có thể lấp đầy. Mất mẹ rồi con phải tự mình trong cuộc sống, con nhớ những ngày đi học, trên con đường đó, cứ từ lúc ở cổng trường ra đến khi về đến nhà nước mắt con cứ chảy dài mà không thể nào ngăn lại được.

Mất mẹ, có lúc con tưởng mình không thể vượt qua được những cám dỗ của xã hội nhưng rồi con chợt nhận ra rằng con phải nỗ lực hơn gấp 2 – 3 lần chúng bạn vì con nghĩ rằng nếu con sống không tốt sẽ có  người nói con không có mẹ dạy dỗ, mà với con mẹ là những gì thiêng liêng và cao quý nhất.

Ngày xưa mỗi khi hai mẹ con nằm nói chuyện tâm sự mẹ thường hay hỏi con rằng  ” Khi đi xa con có nhớ mẹ không, lúc đó con thường hay nói con chẳng nhớ gì mẹ cả ” , con biết lúc đó mẹ có chút thoáng buồn vì những lời nói của con, nhưng không phải vậy đâu mẹ ạ, thực ra là con rất nhớ mẹ nhưng vì tính trẻ con muốn thể hiện rằng mình đã lớn nên với nói vậy, bây giờ nghĩ lại con rất ân hận vì đã nói những điều đó. Ngày xưa con có rất nhiều ước mơ con luôn ước sau này học xong con sẽ đi làm ở thật xa đơn giảm vì lúc đó con nghĩ mình phải khằng định mình và muốn được như các anh chị mỗi lần đi xa về mua rất nhiều quà cho mẹ, và kể cho mẹ nghe về cuộc sống nơi đó.

Đến bây giờ thì con lại nghĩ khác, con không muốn đi xa, con  muốn mình làm ở gần nhà , lấy chồng gần nhà đơn giản vì mỗi lần nhớ mẹ con có thể chạy về nhà, căn nhà ngày xưa có mẹ, tất cả mọi thứ trong căn nhà đều còn in bóng dáng mẹ, thấp thoáng đâu đó có tiếng bước chân giọng nói của mẹ, hay khi đi ở đường làng con chợt nhìn thấy một bóng dáng thân quen của mẹ, con đuổi theo hình bóng đó như kẻ vô hồn rồi lại giật mình và thất vọng khi nhận ra đó không phải là mẹ mình.

Người ta thường nói ở hiền sẽ gặp lành vậy sao mẹ hiền thế tốt thế mà ông trời lại bất công mang căn bệnh quái ác đến hành hạ mẹ chứ, có lẽ mọi đau khổ tai ương mẹ hứng chịu hết để mong cho 3 đứa con mẹ bình an và hạnh phúc. Ông trời chắc  thương người nhân hậu như mẹ và chúng con hạnh phúc biết nhường nào.

Khi hôm mẹ bước chân ra cửa sau trận mưa tầm tã thì trời quang mây tạnh,  gió xôn xao và những vì sao như những thiên thần bảo vệ mẹ, dắt tay mẹ về với đất. Năm nay con vẫn lại nguyện cầu như năm nào, xin đất trời được nắng ráo để cho con cháu của mẹ được chạy nhẩy, nô đùa trước sân, được chạy ra mộ và ùa vào lòng mẹ, để líu ríu chuyện trò đủ thứ, rồi lại để mắt mũi ướt nhòe vì nỗi nhớ mẹ.

Mẹ ơi!

Con sẽ lại thắp hương và chuyện trò cùng mẹ, sẽ lại kể tội các chị các anh với những lỗi lầm đáng ghét. Chúng sinh thì rất nhiều tội, con người lại càng nhiều tội hơn, và chắc chắn mẹ lại dạy con rằng “tha thứ đi con”.

Mẹ ơi, con chỉ muốn được một lần ôm lấy mẹ, được hít hà mùi thơm của mẹ,thứ mùi thơm mà chẳng đâu có được, thứ mùi của tình mẹ bao la nó chứa đựng của vị cay cay của khói bếp, vị mặn mặn của những giọt mồ hôi – của Mẹ như ngày xưa. Mỗi lần đến giỗ mẹ lòng con lại trào dâng niềm xót xa và nỗi nhớ, sẽ lại nấc lên, nghẹn ngào.

Mẹ ơi, con gái út yêu và nhớ mẹ vô cùng!

Vườn hoa Phật giáo

1:22 am
December 14, 2014


khahan

khahan
Admin

posts 11748

Bố sẽ mãi mãi là ngọn lửa thiêng liêng, sưởi ấm tâm hồn con

Trong cuộc sống hàng ngày, có biết bao nhiêu người đáng để chúng ta thương yêu và dành nhiều tình cảm. Nhưng đã bao giờ bạn nghĩ rằng, người thân yêu nhất của bạn là ai chưa?

 

Ảnh minh họa -Nguồn: Internet

Với mọi người câu trả lời ấy có thể là ông bà, là mẹ, là anh chị hoặc cũng có thể là bạn bè chẳng hạn. Còn riêng tôi, hình ảnh người bố sẽ mãi mãi là ngọn lửa thiêng liêng, sưởi ấm tâm hồn tôi mãi tận sau này.

Bố tôi không may mắn như những người đàn ông khác. Trong suốt cuộc đời bố có lẽ không bao giờ được sống trong sự sung sướng, vui vẻ. Bốn mươi tuổi khi chưa đi được nửa chặng đời người, bố đã phải sống chung với bao nhiêu bệnh tật: Đầu tiên đó chỉ là những cơn đau dạ dày, rồi tiếp đến lại xuất hiện thêm nhiều biến chứng. Trước đây, khi còn khỏe mạnh, bao giờ bố cũng rất phong độ.

Thế nhưng bây giờ, vẻ đẹp ấy dường như đã dần đổi thay: Thay vì những cánh tay cuồn cuộn bắp, giờ đây chỉ còn là một dáng người gầy gầy, teo teo. Đôi mắt sâu dưới hàng lông mày rậm, hai gò má cao cao lại dần nổi lên trên khuôn mặt sạm đen vì sương gió. Tuy vậy, bệnh tật không thể làm mất đi tính cách bên trong của bố, bố luôn là một người đầy nghị lực, giàu tự tin và hết lòng thương yêu gia đình.

Gia đình tôi không khá giả, mọi chi tiêu trong gia đình đều phụ thuộc vào đồng tiền bố mẹ kiếm được hàng ngày. Dù bệnh tật, ốm đau nhưng bố chưa bao giờ chịu đầu hàng số mệnh. Bố cố gắng vượt lên những cơn đau quằn quại để làm yên lòng mọi người trong gia đình, cố gắng kiếm tiền bằng sức lao động của mình từ nghề xe lai.

Hàng ngày, bố phải đi làm từ khi sáng sớm cho tới lúc mặt trời đã ngã bóng từ lâu. Mái tóc bố đã dần bạc đi trong sương sớm. Công việc ấy rất dễ dàng với những người bình thường nhưng với bố nó rất khó khăn và gian khổ. Bây giờ có những lúc phải chở khách đi đường xa, đường sốc thì những cơn đau dạ dạy của bố lại tái phát.

Và cả những ngày thời tiết thay đổi, có những trưa hè nắng to nhiệt độ tới 38-48 độ C, hay những ngày mưa ngâu rả rích cả tháng 7, tháng 8, rồi cả những tối mùa đông lạnh giá, bố vẫn cố gắng đứng dưới những bóng cây kia mong khách qua đường. Tôi luôn tự hào và hãnh diện với mọi người khi có được một người bố giàu đức hy sinh, chịu thương, chịu khó như vậy.

Nhưng có phải đâu như vậy là xong. Mỗi ngày bố đứng như vậy thì khi trở về những cơn đau quằn quại lại hành hạ bố. Nhìn khuôn mặt bố nhăn nhó lại, những cơn đau vật vã mà bố phải chịu đựng, tôi chỉ biết òa lên mà khóc.

Nhìn thấy bố như vậy, lòng tôi như quặn đau hơn gấp trăm ngàn lần. Bố ơi, giá như con có thể mang những cơn đau đó vào mình thay cho bố, giá như con có thể giúp bố kiếm tiền thì hay biết mấy? Nếu làm được gì cho bố vào lúc này để bố được vui hơn, con sẽ làm tất cả, bố hãy nói cho con được không?

Những lúc ấy, tôi chỉ biết ôm bố, xoa dầu cho bố, tôi chỉ muốn với bố đừng đi làm nữa, tôi có thể nghỉ học, như vậy sẽ tiết kiệm được chi tiêu cho gia đình, tôi có thể kiếm được tiền và chữa bệnh cho bố. Nhưng nếu nhắc đến điều đó chắc chắn là bố sẽ buồn và thất vọng ở tôi nhiều lắm.

Bố luôn nói rằng bố sẽ luôn chiến đấu. Chiến đấu cho tới những chút sức lực cuối cùng để có thể nuôi chúng tôi ăn học thành người. Bố rất quan tâm đến việc học của chúng tôi. Ngày xưa bố học rất giỏi nhưng nhà nghèo bố phải nghỉ học. Vào mỗi tối, khi còn cố gắng đi lại được, bố luôn bày dạy cho mấy chị em học bài.

Trong những bữa cơm bố thường nhắc chúng tôi cách sống, cách làm người sao cho phải đạo. Tôi phục bố lắm, bố thuộc hàng mấy nghìn câu Kiều, hàng trăm câu châm ngôn, danh ngôn nổi tiếng…

Chính vì vậy, tôi luôn cố gắng tự giác học tập. Tôi sẽ làm một bác sĩ và sẽ chữa bệnh cho bố, sẽ kiếm tiền để phụng dưỡng bố và đi tiếp những bước đường dở dang trong tuổi trẻ của bố.

Tôi luôn biết ơn bố rất nhiều, bố đã dành cho tôi một con đường sáng ngời, bởi đó là con đường của học vấn, chứ không phải là con đường đen tối của tiền bạc. Tôi sẽ luôn lấy những lời bố dạy để sống, lấy bố là gương sáng để noi theo.

Và tôi khâm phục không chỉ bởi bố là một người giỏi giang, là một người cao cả, đứng đắn, lòng kiên trì chịu khó mà còn bởi cách sống lạc quan, vô tư của bố. Mặc dù những thời gian rảnh rỗi của bố còn lại rất ít nhưng bố vẫn trồng và chăm sóc khu vườn trước nhà để cho nó bao giờ cũng xanh tươi.

Những giỏ phong lan có bao giờ bố quên cho uống nước vào mỗi buổi sáng; những cây thiết ngọc lan có bao giờ mang trên mình một cái lá héo nào? Những cây hoa lan, hoa nhài có bao giờ không tỏa hương thơm ngát đâu? Bởi đằng sau nó luôn có một bàn tay ấm áp chở che, chăm sóc, không những yêu hoa mà bố còn rất thích nuôi động vật.

Tuy nhà tôi bao giờ cũng có hai chú chó con và một chú mèo và có lúc bố còn mang về những chiếc lồng chim đẹp nữa. Và hơn thế, trong suốt hơn năm năm trời chung sống với bệnh tật, tôi chưa bao giờ nghe bố nhắc đến cái chết, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc trốn tránh sự thật, bố luôn đối mặt với “tử thần”, bố luôn dành thời gian để có thể làm được tất cả mọi việc khi chưa quá muộn.

Nhưng cuộc đời bố bao giờ cũng đầy đau khổ, khi mà cả gia đình đã dần khá lên, khi các chị tôi đã có thể kiếm tiền, thì bố lại bỏ chị em tôi, bỏ mẹ, bỏ gia đình này để ra đi về thế giới bên kia. Bố đi về một nơi rất xa mà không bao giờ được gặp lại.

Giờ đây khi tôi vấp ngã, tôi sẽ phải tự đứng dậy và đi tiếp bằng đôi chân của mình, bởi bố đi xa, sẽ không còn ai nâng đỡ, che chở, động viên tôi nữa.

Bố có biết chăng nơi đây con cô đơn buồn tủi một mình không? Tại sao nỡ bỏ con ở lại mà đi hả bố? Nhưng con cũng cảm ơn bố, bố đã cho con thêm một bài học nữa, đó chính là trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta hãy trân trọng những gì đang có, hãy yêu thương những người xung quanh mình hơn, và đặc biệt hãy quan tâm, chăm sóc cho bố của mình, tha thứ cho bố, khi bố nóng giận và nỡ mắng mình bởi bố luôn là người yêu thương nhất của chúng ta.

Bố ra đi, đi đến một thế giới khác, ở nơi đó bố sẽ không còn bệnh tật, sẽ thoát khỏi cuộc sống thương đau này. Và bố hãy yên tâm, con sẽ luôn nhớ những lời dạy của bố, sẽ luôn thương yêu, kính trọng biết ơn bố, sẽ sống theo gương sáng mà bố đã rọi đường cho con đi.

Hình ảnh của bố sẽ luôn ấp ủ trong lòng con. Những kỷ niệm, những tình cảm bố dành cho con, con sẽ ôm ấp, trân trọng, nó như chính linh hồn của mình.

Vườn hoa Phật giáo

1:29 am
December 14, 2014


khahan

khahan
Admin

posts 11748

Một thuở dại khờ

Ngày xưa ấy con còn bé chạy bên ba mà không biết ba cũng có ba. Con vui đùa với ba mà không biết ba cũng có một thời bé nhỏ như con. Cha con mình hạnh phúc một đời mà con đâu nghĩ trong tim ba cũng có góc nhớ nhớ thương thương mà không thể nói cùng ai. Con dại khờ …nghĩ cha chỉ có con.

 

Ảnh minh họa -Nguồn: Internet

Những lúc con ngồi xoa những mắt cá chai dưới bàn chân ba mà chê chân ba "kỳ". Ba cười nói chân ba giống ông nội. Con ngơ ngác nhìn, ngơ ngác không hiểu…Ngày hôm sau con lại nói chân ba giống chân ông. Con nói nào có hiểu ai là ông nội mình. Con đâu biết mỗi bước chân ba đi là một nỗi nhớ về hướng xa xôi…

Ngày ba mẹ xin phép ông bà vào Nam buôn bán, rồi hiệp địng Generver ký kết. Hai miền chỉ tạm không giao dịch trong 2 năm. Ba đâu ngờ cuộc chia tay tưởng là hai năm rồi kéo dài đến hai mươi năm ba chưa trở lại quê. Ba nghĩ hai năm như ngảnh đầu nhưng đó lại là hai mươi năm. Hai mươi năm nỗi nhớ khắc khoải cứ ẩn hiện trong ba.

Ngày cha con dùng miếng cơm ngon ba nghĩ ngoài ấy có ông bà lúc thiếu, lúc khó khăn. Ngày đông chiếc mền mỏng manh ngày nào có còn đủ ấm cho người mà con nằm bên ba cứ rúc rich cười, rúc rích đùa. Cha ôm con vào lòng vuốt vai con mà tưởng đang dựa vai cha già. Con thương ba ôm ba hôn lên tóc.

Con cười ngất khi râu ba rậm cắn vào má con. Ba kể chuyện ngày nhỏ ba đi học con tròn mắt không hiểu ba cũng được ông chăm bẵm như con. Con chẳng hình dung ông nội như thế nào. Chiếc cặp của con bung đường chỉ ba ngồi may lại. Con ngồi bên hỏi : " Ông nội có may cặp cho ba không, hở ba".

Mắt ba xa xăm : " Ba không có cặp da. Chỉ có cặp bằng cói chiếu. Sau ông đan cho ba chiếc cặp bằng nan tre vì ông đan giỏ rổ giá rất đẹp". Con chẳng thể tưởng tượng nổi cặp sách bằng nan tre. Con chưa hiểu tình cha con qua chiếc cặp con xách đi học. Chiếc cặp độc đáo nhất trên đời. Con cười chiếc cặp kỳ lạ. Rồi con hỏi: " Ông nội có đưa ba đi học". Ba xoa chân: Có chứ: " Ngày mưa ông cõng ba đi học. Ngày đông ông trùm áo tơi rồi cõng ba đến trường." Con cười nói: " Ông thương ba ít hơn ba thương con". Ba xoa đầu đứa con lém lỉnh. Một thuở dại khờ phải không ba.

Rồi một ngày có ông cụ hàng xóm thương ba vì ông cũng có một người con bằng tuổi ba rớt lại ngoài ấy. Nhận cho vơi thương, vơi nhớ. Ngày nào ông và ba cũng chuyện trò cùng nhau. Nhưng con không nhận ông vì ông đeo mắt kính, cằm có râu trắng. Con sợ mắt kính, sợ da nhăn, sợ hàm râu trắng phau bay trong gió. Thế là con không hưởng tình ông cháu… Khi con lớn đủ biết thì ông không còn. Con không có ông mà mất cả tình ông cháu…Dại khờ một thời phải không ba?

Hai mươi năm ba ngậm ngùi nhớ, ngậm ngùi thương khi mùa xuân vê, hè sang, đông đến. Nhìn mái tóc bạc, nhìn lưng còng ai đó phớt ngang qua nhà ba lại nhớ. Một thoáng chút buồn. Thấy nụ cười hiền hiền của người nông dân ba nhớ.

Nỗi nhớ của ba ngày càng cao ngút ngàn khi ba đi vào tuổi già. Con cái nào đọc nỗi buồn qua vết hằn trên khóe mắt, khóe miệng. Ba không chia sẻ nỗi nhớ cho ai. Một mình ba nhớ…Con cái đuổi theo bóng nắng chói lòa phía trước. Con tưởng ai bình an và hạnh phúc như con. Một thuở dại khờ…

Ngày ba đọc tin ông bà không còn ba ngồi im nhìn vào khoảng không phía trước, mắt ba đỏ hoe nước không thể trào. Khi này con hai mươi tuổi, con cúi mặt nhận nỗi sót xa nào đó mênh mang. Tin ông bà mất trước khi con được gặp người.

Ba đau lắm nhưng con không biết nỗi đau ấy lớn như thế nào? Con đốt nhang và mắt nhìn vào khoảng không vì không di ảnh ông bà. Con lạy người bằng tấm lòng bàng bạc…Nhưng ba đau lắm phải không ba? Con chưa cảm cái đau này. Đầu con chưa choáng, dạ con chưa xót…Một thuở dại khờ…

Khi con thành công trong đời và con bay vào đời. Nhưng khi ấy ba chậm chậm ngồi nhìn vào khoảng không và nhớ lắm. Già và cảm xúc dâng trào. Ba đứng trước bàn thờ và nén nhang ba khóc như chưa bao giờ được khóc. Con dìu ba đứng lặng im. Hai cha con đứng trước bàn thờ…Con ôm ba thật chặt…

Khi ba bệnh, hai cha con trong căn phòng rộng thênh thang. Ba ôm con vào lòng, con ôm cánh tay ba gầy guộc… con biết con sắp mất ba. Con không còn cách nào níu ba được Con đã dùng hết các loại thuốc mà không thể nào níu được ba.

Ba không còn nói được nữa. Con không dám nói điều gì. Hai cha con ngối bên nhau. Bây giờ con mới đau cái đau mà ba chịu bao lâu nay. Con nắm tay ba mà không dám khóc. Đau lắm ba ơi! Ba đừng đi nhé ba. Chưa có cái đau nào đau hơn thế này.

Con biết làm gì nữa hở ba. Con cho ba ăn từng muỗng cháo…Nhưng ba nào ăn được. Con ôm ngang người ba và gục mặt lên người ba. Ba nhẹ nhẹ vuốt tóc con. Làm sao con níu ba được. Cuộc sống chỉ còn từng giây phút. Con biết lẽ vô thường là thế mà con vẫn đau…

Một sáng mùa đông, ba lặng lẽ về. Ba về với ông. Con đứng không vững. Hai tay quơ phía trước tìm ba…Ba là cây cổ thụ đời con. Cây đổ con chỗ nào dựa. Ba chịu đựng năm mươi năm nhớ, năm mươi năm thương và ân hận vì mình đã không được gần mẹ cha, không đượcdâng chén cơm, miếng canh cho người.

Tình cha con đứt từ ngày ba vào Nam, và cháu không được sống có ông bà. Những giây phút cuối của mẹ cha ba không được một lần nhìn, một lần nắm tay lần cuối… Mà con dại khờ nào có biết. Bây giờ con đau gấp hai lần ba ơi. Một thuở dại khờ…

Ba ra đi vào một ngày cận tết, ngoài hiên nắng se sắt và bên nhà hàng xóm trẻ nhỏ đang vui mừng khoe chiếc thắm. Con đứng lặng nhớ những gì ba chiều con suốt mấy mươi năm qua. Chỉ từ năm ấy ba im lặng…

Mất ba bốn năm rồi và con lấy lại bình an. Nhưng chút gió lạnh, chút nắng hanh hao con chạnh lòng nhớ…chạnh lòng xót xa …mỉm cười mình đã có hạnh phúc với cha yêu tuyệt vời nhất thế gian mà chỉ mình mình có.

Ngồi một mình trong phòng thờ con nhìn di ảnh ba như tưởng ba còn đâu đây. Ba mỉm cười với con gái dại khờ của ba một cách hiền lành và thân thương. Ba vẫn ở trong trái tim con. Con nhớ ba.

Tết rồi đó ba. Ba ở nơi nào đó chắc cũng bình an như nhà mình. Nhất là thế, ba nhé!

Vườn hoa Phật giáo
 

 


4:34 pm
December 26, 2014


khahan

khahan
Admin

posts 11748

Những câu chuyện về Nhân Quả

“Kinh Pháp Cú” cũng nói đến “Luật Nhân Quả”. “Nhân” nghĩa là nguyên nhân, là hạt, tức hạt giống sinh ra một vật hữu hình hay là sức mạnh sinh ra một vật vô hình. “Quả” là kết quả, là trái, tức là kết quả hữu hình hoặc vô hình của một hạt đã gieo trồng. Nhân là năng lực phát động, quả là sự hình thành của năng lực phát động ấy. Nhân và quả là hai trạng thái tiếp nối nhau mà có.


 Ảnh minh họa -Nguồn: Internet

Câu chuyện thứ nhất xin kể về ông Gandhi. Ông là một vị anh hùng của dân tộc Ấn Độ, ông đã chỉ đạo cuộc kháng chiến chống chế độ thực dân của Đế quốc Anh và giành độc lập cho Ấn Độ với sự ủng hộ nhiệt liệt của hàng triệu người dân. Ông được dân Ấn Độ gọi một cách tôn kính là “Linh hồn lớn”, “Vĩ nhân”, “Đại nhân” hoặc là “Thánh Gandhi”.

Người ta kể chuyện là có thời ông Gandhi đi một chuyến xe lửa. Khi xe bắt đầu chuyển bánh thời ông nhảy vội vã lên tàu khiến cho một chiếc giày của ông rơi xuống đường. Ông không thể nào nhảy xuống để nhặt lại chiếc giày trong khi tàu chạy càng lúc càng nhanh. Ông bèn tháo luôn chiếc giày còn lại trong chân và ném về phía chiếc giày kia ở dưới đường. Hành khách trên tàu tỏ vẻ ngạc nhiên khi nhìn thấy thế và lấy làm lạ về hành động kỳ quặc của ông.

Gandhi mỉm cười và ôn tồn giải thích rằng: “Nếu có một người nghèo nào lượm được chiếc giày thứ nhất thì người đó có thể tìm thấy chiếc thứ hai và như thế là có được đủ đôi giày để đi.”

Chúng ta ít khi nghĩ đến các người khác mà thông thường chỉ nghĩ về chính bản thân mình mà thôi. Khi bị mất mát thì điều đầu tiên chúng ta nghĩ đến là những thiệt thòi và bất hạnh của mình. Kế đó mất thêm nhiều thời gian nữa để nuối tiếc, than thở, rồi sinh ra chán nản. Nhiều khi trở nên bực bội và gắt gỏng nữa.

Gandhi đã có một hành động thật cao quý vì trong khi bản thân mình bị mất mát như thế, ông vẫn để tâm nghĩ đến người khác. Hành động này chứng tỏ việc nghĩ đến người khác đã trở thành một phần trong tâm tưởng và nguyên tắc sống của ông.

Nếu trong những lúc mà chúng ta được sống an bình và thành công mà chúng ta còn không quan tâm tới những kẻ bị bất hạnh hơn mình thì liệu khi gặp gian khó, mất mát, ta có thể làm được điều đó hay không? Trong xã hội, xung quanh chúng ta hàng ngày có biết bao nhiêu người thiếu thốn đang cần sự giúp đỡ. Những gì họ cần đến không nhất thiết phải luôn luôn là vật chất, nhiều khi họ chỉ cần một lời động viên an ủi. Cõi ta bà này sẽ hạnh phúc biết bao nếu mỗi chúng sinh không chỉ chăm lo cho lợi ích riêng mình mà còn chăm lo cho lợi ích của người khác nữa.
 
Câu chuyện thứ hai liên quan tới vị danh tướng Dwight Eisenhower. Ông  là một vị tướng 5 sao trong Lục quân Hoa Kỳ và là Tổng thống Hoa Kỳ thứ 34 từ năm 1953 đến 1961. Trong thời Đệ nhị Thế chiến, ông phục vụ với tư cách là tư lệnh tối cao các lực lượng đồng minh tại Châu Âu, có trách nhiệm lập kế hoạch và giám sát cuộc tiến công xâm chiếm thành công vào nước Pháp và Đức năm 1944–45 từ mặt trận phía Tây.

Vào thời xa xưa đó, một hôm ông Eisenhower cùng với đoàn tùy tùng của ông vội vã lái xe về tổng hành dinh quân đội ở Pháp để tham dự một cuộc họp khẩn cấp. Lúc đó trời đang mùa đông lạnh buốt lại thêm mưa tuyết rơi phủ đầy khắp nơi. Xe đang chạy thì ông bất ngờ để ý nhìn thấy có hai vợ chồng già người Pháp ngồi ở bên lề đường đang run rẩy vì cái lạnh giá buốt. Ông lập tức ra lệnh cho đoàn tùy tùng ngừng lại và muốn phái một thông dịch viên tiếng Pháp tới hỏi thăm cặp vợ chồng này. Một viên tham mưu nhắc nhở ông là nên để cho nhân viên công lực tại địa phương lo chuyện này, phái đoàn phải đi nhanh lên vì sợ trễ cuộc họp. Ông nói nếu đợi cảnh sát địa phương tới thì sợ là quá muộn và hai người này sẽ chết cóng.

Sau khi hỏi thăm, ông Eisenhower biết được là họ đang muốn tới Paris để gặp con trai nhưng xe của họ bị chết máy giữa đường. Ông bảo hai vợ chồng già mau lên xe của ông. Ông không hề quan tâm đến chức phận của ông và không hề tỏ thái độ gì trước hai kẻ đang gặp nạn này. Ông chỉ theo bản tính lương thiện vốn sẵn có của ông là luôn luôn muốn giúp đỡ người hoạn nạn mà thôi. Ông liền ra lệnh thay đổi lộ trình, đưa cặp vợ chồng tới Paris trước, rồi ông và đoàn tùy tùng mới lái xe tới tổng hành dinh để dự cuộc họp.

Không ngờ chính sự chuyển hướng đi thình lình ngoài kế hoạch này đã cứu mạng ông! Quân Quốc Xã có tin tình báo nên biết chính xác hành trình của ông và đã bố trí sẵn các tay súng bắn tỉa nấp rình tại các ngã tư. Nếu ông tới thì sẽ bị hạ sát ngay chỗ đó. Nhưng hóa ra chỉ nhờ vào cái tâm  lương thiện, cái lòng từ bi đã giúp ông đổi lộ trình và tránh thoát cuộc mưu sát này. Quả là tự cứu mình bằng cách giúp người khác.
 
Câu chuyện thứ ba kể về một cậu bé nhà nghèo tên là Howard Kelly. Quá nghèo nên hàng ngày cậu thường phải đến gõ cửa từng nhà để bán báo trên đường đi tới trường học của mình.

Một hôm cơn đói nổi lên thình lình, cậu thò tay vào túi thì thấy chỉ có một đồng duy nhất cuối cùng. Đồng tiền này cậu định dành lại để mua thức ăn cho mấy đứa em ở nhà. Sau vài giây phút lưỡng lự cậu quyết định đi tới ngôi nhà ở phía trước để xin chút đồ ăn. Nhưng người mở cửa cho cậu lại là một cô bé xinh đẹp và dễ thương. Cậu tỏ ra bối rối và ngại ngần, nên cậu chỉ dám mở miệng xin một cốc nước để uống mà thôi.

Cô bé trông thấy cậu có vẻ nghèo nàn và đang mệt lả đi vì đói nên thay vì mang nước cô lại đem cho cậu một cốc sữa lớn. Cậu từ từ uống một cách ngon lành rồi mới rụt rè khẽ hỏi cô gái: “Tôi nợ cô bao nhiêu?” Cô gái trả lời: “Bạn không nợ nần gì tôi cả. Mẹ tôi đã dạy là không bao giờ làm điều tốt mà còn chờ được trả công.” Cậu cảm động nói: “Tôi thành thực biết ơn cô.

Sau khi rời khỏi ngôi nhà cô bé tốt bụng đó, cậu Howard Kelly không chỉ cảm thấy cơ thể khỏe khoắn trở lại mà cậu còn có lòng tin tưởng hơn vào từ tâm của con người. Điều này giúp ý chí cậu mạnh mẽ thêm lên và không chịu khuất phục số phận hẩm hiu của mình.

Nhiều năm sau đó, cô gái trẻ nói trên mắc phải một căn bệnh rất hiểm nghèo. Các bác sỹ tại địa phương đã cố gắng nhưng đành bó tay, không thể làm thuyên giảm bệnh. Cuối cùng họ quyết định chuyển cô lên bệnh viện thành phố nơi có nhiều chuyên gia mong chữa khỏi bệnh cho cô.

Trong số các bác sỹ được mời tới hội chẩn có một người tên là Howard Kelly. Khi nghe tới cái tên nơi quê quán của cô gái, một tia sáng chợt lóe lên trong ký ức của Kelly. Kelly vội đứng dậy, chạy xuống phòng cô gái. Bước tới gần giường bệnh ngay lập tức Kelly đã nhận ra đó chính là cô gái cho mình sữa ngày xa xưa. Kelly quay trở lại phòng hội chẩn và đề nghị được là người phụ trách ca bệnh đó.

Kelly làm hết sức mình với một sự quan tâm đặc biệt để chữa bệnh cho cô gái. Sau một thời gian chống chọi bệnh tình cô thuyên giảm và cuối cùng là khỏi bệnh hoàn toàn. 

Trước ngày cô gái xuất viện, bác sỹ Kelly đã yêu cầu nhân viên quầy thu ngân chuyển hóa đơn tới bàn giấy của mình. Kelly viết ít chữ lên trên hóa đơn trước khi nó được gởi tới phòng bệnh để trao cho cô gái.

Khi mở ra đọc cô gái thầm nghĩ rằng có lẽ cô sẽ phải ra sức làm việc cả đời mới trả hết món tiền này. Nhưng cô thật sự ngạc nhiên khi đọc thấy trên phần đầu hóa đơn đã ghi sẵn dòng chữ: “Hóa đơn đã được thanh toán bằng một ly sữa”. Và người ký tên là: “Bác Sỹ Howard Kelly.”
 
Câu chuyện thứ tư xảy ra tại Đại học Stanford vào năm 1892. Thời đó có một học sinh 18 tuổi gặp khó khăn trong việc trả tiền học. Là một trẻ mồ côi anh ta không biết đi nơi đâu để kiếm ra tiền, anh bèn nảy ra một sáng kiến. Anh cùng một người bạn khác quyết định tổ chức một buổi nhạc hội ngay trong khuôn viên trường để gây quỹ cho việc học.

Họ đến mời Ignacy J Paderewski, một nghệ sĩ dương cầm đại tài. Người quản lý của Paderewski yêu cầu một khoản tiền là $2000 cho buổi biểu diễn. Sau khi họ thỏa thuận xong, hai người sinh viên bắt tay ngay vào công việc chuẩn bị buổi trình diễn. Ngày ấy cuối cùng đã đến. Paderewski đã tới biểu diễn tại Stanford. Nhưng không may là vé không bán được hết. Sau khi tổng kết số tiền bán vé họ chỉ có được $1600. Họ thất vọng, đến để trình bày hoàn cảnh của mình với Paderewski. Họ đưa cho ông toàn bộ số tiền bán vé, cùng với một check nợ $400 và hứa rằng họ sẽ cố gắng trả số nợ ấy thật sớm.

Không ngờ Paderewski lại xé bỏ tờ check, trả lại số tiền cho hai chàng thanh niên và nói: “Hãy giữ lấy 1600 đô này, sau khi trừ hết tất cả các chi phí cho buổi biểu diễn còn bao nhiêu các cậu cứ giữ lấy cho việc học. Còn dư bao nhiêu nữa thì mới đưa cho tôi.” Hai chàng thanh niên vô cùng bất ngờ, xúc động nói lời cảm ơn…

Đây chỉ là một việc nhỏ, nhưng đã chứng minh được nhân cách tuyệt vời của Paderewski. Ông giúp hai người mà ông ấy không hề quen biết. Trong cuộc sống hầu hết chúng ta đều nghĩ: “Nếu giúp họ, chúng ta sẽ được gì?” Nhưng những người vĩ đại lại nghĩ khác: “Nếu mình không giúp họ, điều gì sẽ xảy ra với những con người đang gặp gian khó này?” Người có từ tâm giúp ai không mong đợi sự đền đáp và chỉ nghĩ đó là việc nên làm mà thôi.
 
Người nghệ sĩ dương cầm tốt bụng Paderewski nói trên sau này trở thành Thủ Tướng của nước Ba Lan. Ông là một vị lãnh đạo tài năng. Không may chiến tranh thế giới bùng nổ và đất nước của ông bị tàn phá nặng nề. Hơn một triệu rưỡi người dân đang bị chết đói. Chính phủ của ông không còn tiền. Không biết đi đâu để tìm sự giúp đỡ ông bèn đến Cơ Quan Cứu Trợ Lương Thực Hoa Kỳ để nhờ trợ giúp.

Người đứng đầu cơ quan đó chính là Herbert Hoover, người sau này trở thành Tổng Thống thứ 31 của Hoa Kỳ. Ông Hoover đồng ý giúp đỡ và nhanh chóng gửi hàng tấn lương thực để cứu giúp những người Ba Lan đang bị đói khát ấy. Cuối cùng thì thảm họa cũng đã được ngăn chặn.

Thủ Tướng Paderewski lúc bấy giờ mới cảm thấy thoải mái. Ông bèn quyết định đi sang Hoa Kỳ để tự mình cảm ơn ông Hoover. Thế nhưng khi Paderewski chuẩn bị nói câu cảm ơn thì ông Hoover vội cắt ngang và nói: “Ngài không cần phải cảm ơn tôi đâu. Có lẽ ngài không còn nhớ, nhưng vài năm trước, ngài có giúp đỡ hai cậu sinh viên trẻ tuổi ở bên Mỹ được tiếp tục đi học, và tôi là một trong hai chàng sinh viên đó đấy.” 
    
Thế giới này quả là một nơi tuyệt vời. Bạn cho đi thứ gì thì sẽ nhận được những điều tốt đẹp đáp lại! (The world is a wonderful place. What goes around comes around!).

Người ta cũng còn nhớ ông Winston Churchill từng nói đại ý rằng chúng ta sinh sống bằng những gì chúng ta kiếm được, nhưng chúng ta tạo lập đời mình bằng chính những gì mà chúng ta bố thí. Sống trên đời phải có một chút gì cho đi. Một chút đó chính là cái mình cố gắng (We make a living by what we get, but we make a life by what we give.)   
 
Quả thật Ðức Phật đã từng khuyên dạy chúng sinh là hãy chăm tu tập “Tứ Vô Lượng Tâm”, tức là “bốn món tâm rộng lớn không lường được”, đó là các tâm “Từ, Bi, Hỷ, Xả”. Riêng tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác, lòng lành giúp ích cho người, lòng thương yêu, chúng sinh, lòng mong ước cho tất cả chúng sinh đều được an lành vui vẻ.  

Tâm từ không phải là sự yêu thương thiên về xác thịt, về tình dục, cũng không phải là lòng trìu mến vị kỷ, lòng luyến ái đối với riêng người nào. Tâm từ không phân biệt kẻ thân người sơ, không dành riêng cho tình đồng chí, đồng chủng, cũng không dành riêng cho tình đồng hương hay đồng đạo. Hơn nữa tâm từ không phải chỉ nên có giữa người và người mà phải bao trùm tất cả chúng sinh, bởi vì, loài cầm thú cũng cần đến sự giúp đỡ và tình thương.

Nói tóm lại, tâm từ bao la, rộng rãi, trải ra đồng đều, không còn sự khác biệt giữa mình và người. Cái gọi là “ta” không còn nữa. Mọi sự chia rẽ đều biến mất như đám sương mù tan trong nắng sáng. Vạn vật trở thành một, đồng thể, đồng nhất.
 
Kinh Pháp Cú” cũng nói đến “Luật Nhân Quả”. “Nhân” nghĩa là nguyên nhân, là hạt, tức hạt giống sinh ra một vật hữu hình hay là sức mạnh sinh ra một vật vô hình. “Quả” là kết quả, là trái, tức là kết quả hữu hình hoặc vô hình của một hạt đã gieo trồng. Nhân là năng lực phát động, quả là sự hình thành của năng lực phát động ấy. Nhân và quả là hai trạng thái tiếp nối nhau mà có. Nếu không có nhân thì không có quả, nếu không có quả thì không có nhân. Định luật hiển nhiên này mọi người đều nhận thấy. Định luật nhân quả liên tục kéo dài vô cùng tận, như những lượn sóng chập chùng trên mặt đại dương.

Theo “Luật Nhân Quả” một khi đã làm lành, đã hành động thiện, thời quả lành sẽ chờ đợi chúng ta.
 
(Pháp Cú 68)
Việc làm rất thiện, rất lành
Nếu làm xong thấy lòng mình thảnh thơi
Chẳng ăn năn, lại mừng vui
Tương lai quả báo đẹp tươi tốt lành.

Khi đã làm lành, đã tạo các nghiệp hiền thiện, người ta có quyền thốt lên nỗi niềm sung sướng an vui khi nhìn thấy kết quả tốt của nghiệp thiện mà mình tạo ra. Một người từng có tâm đạo nhiệt thành và có đời sống đạo hạnh. Ông thường hay bố thí, lại hay dưng thực phẩm và cúng dường các vật dụng cần thiết cho chư Tăng. Các con ông tất cả đều giống tính cha, biết giữ gìn giới đức và chăm lo bố thí. Khi đang hấp hối trên giường, ông thỏa thích nhìn thấy những cảnh trạng hạnh phúc. Sau khi trút hơi thở cuối cùng một cách an vui người ấy tái sinh vào nhàn cảnh. Đức Phật dạy kẻ làm phước, làm thiện sẽ đươc an vui trong kiếp này và kiếp sau, suốt hai kiếp đều an vui. Cả hai đời hạnh phúc vì đã tạo phước, và còn hạnh phúc hơn nữa khi kiếp sau được sinh vào cõi lành.

(Pháp Cú 16)
Vui mừng ngay ở kiếp này
Kiếp sau cũng lại tràn đầy mừng vui:
Người làm điều thiện ở đời
Thấy chân hạnh phúc khắp nơi theo mình
Quay nhìn việc thiện tạo thành
Sướng vui dào dạt, an lành chứa chan.
 
Muốn cho niềm an vui tồn tại lâu dài, muốn nuôi dưỡng thiện nghiệp, người trí cần hướng thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp về các việc lành. Người trí chẳng những lo kiểm soát Thân mà còn lo điều phục, bảo vệ Tâm và Ý nữa:
 
(Pháp Cú 18)
Đầy tràn vui sướng kiếp này
Sướng vui cũng lại tràn đầy kiếp sau:
Người làm nghiệp thiện vui sao
Nhủ lòng: “Mình tạo biết bao phước lành!”
Kiếp sau sẽ được tái sinh
Vào nơi hạnh phúc an bình chứa chan.
 
Các câu chuyện về các nhân vật có thật trong xã hội được kể ở trên quả thật một lần nữa khiến chúng ta thấm thía về những lời dạy vàng ngọc của Đức Phật về “Nhân” và “Quả”.

Vườn hoa Phật giáo
                                                  

4:45 pm
December 26, 2014


khahan

khahan
Admin

posts 11748

Đời sống cần một tấm lòng

Một tấm lòng không phải điều gì cao xa, khó hiểu, đứa trẻ cũng có thể có tấm lòng để thương yêu, cho đến người già cũng có tấm lòng để thương yêu. Cuộc đời sẽ đẹp biết bao khi mọi người luôn thể hiện tình cảm với nhau, thật bình dị mà ý nghĩa nhất.

 

Ảnh minh họa -Nguồn: Internet

"Mong em hiểu, đừng cho tôi nói trước. Nói cho em, tôi biết nói những gì. Viết cho em, quả thật khó quá đi…" (Nối một nhịp cầu của nhà thơ Mặc Giang). Cũng vậy, điều mà tôi đang muốn nói cùng các bạn quả thật rất khó đối với tôi, bởi từ lâu tôi rất ngại khi phải nói đến lời khuyên nhắc, ý kiến hay sự phán xét đến với mọi người, đây chính là cái mâu thuẫn giữa cái tôi đáng ghét.

Bài học đầu đời mà tôi được học đó chính là "đời sống cần có một tấm lòng ". Một buổi chiều mưa lúc tôi đang ngồi trong lớp học (lớp 7), cô giáo bước vào lớp với khuôn mặt mang theo nỗi buồn trĩu nặng, cô nói: "Các em à, Thúy Kiều tự vận còn có sư Tam Hợp bảo Giác Duyên nhờ người cứu sống. Nhưng hôm nay, không ai có thể cứu sống một con người tài hoa được bao nhiêu người yêu mến, Trịnh Công Sơn với hàng trăm ca khúc hay vừa qua đời!".

Dứt lời cô cất lên "đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt, trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt, gọi suốt trăm năm một cõi đi về…" rồi cô hát tiếp "sống trong đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không? để gió cuốn đi …".

Điều này đã làm tôi suy nghĩ nhiều rồi tìm tới với âm nhạc của ông. Tôi học được ở ông nhiều lắm, từ những ca khúc đầu đời như là "Ướt Mi". Ông đã hát cho thân phận người con gái nghiêng bóng đong đời, rồi "làm sao em biết bia đá không đau? Xin hãy cho mưa qua miền đất rộng, ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau".

Trong Diễm Xưa, "áo xưa dù nhàu, cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau"; trong Hạ Trắng, và trên hết là"sống trong đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi" !

Tôi cứ băn khoăn suy nghĩ nhiều bởi không hiểu tại sao đời sống cần có một tấm lòng mà chỉ để gió cuốn đi ?! Thử hỏi, nếu đời sống không có một tấm lòng thì làm sao thi sĩ Mặc Giang viết lên được những bài "Trẻ thơ bên cạnh cuộc đời", "Em bé không biết nói", "Em bé mồ côi", "Em bé nhà nghèo","Tôi là một người mù", "Tôi là một người câm", …cho đến "Tôi là người đạp xích lô, xe thồ , tắcxi… đến người phu quét đường "… biết bao nhiêu là hình ảnh nói về con người và thân phận vậy mà mấy ai nhìn rõ điều đó.

Thử hỏi, nếu nhà thơ không có một tấm lòng cho đời, cho người thì làm gì ông có thể viết lên được những bài thơ đó, ông đã viết rất rõ, rất cụ thể và chi tiết từng con người, từng cuộc đời gắn liền với thân phận! Ôi Mặc Giang, một con người với trái tim nhận hậu ông đã dâng tặng cho đời.

Tôi nghĩ, cuộc đời này sẽ không còn thấy những đường kiếm mưu đồ hay những lưỡi dao bén nhon của sự tỵ hiềm khi họ bắt gặp dòng thơ-ca của ông.

Một cuộc đời sống giữa chốn nhân sinh, nếm vị ngọt của niềm vui, vị đắng của tủi nhục, cả mặn chát của nước mắt, thử hỏi còn gì cho anh, còn gì cho em và còn gì cho tôi? Câu trả lời sẽ là "không còn gì, không còn gì, chỉ còn lại trái tim" phải vậy không các bạn! Trái tim âu chẳng phải là tấm lòng hay một chút tình thương ban trải giữa cuộc đời này hay sao?

Ngay từ bây giờ các bạn cần phải học lòng bao dung, độ lượng các bạn ạ! Cuộc đời này có nhiều nơi để cho chúng ta học hỏi lắm! Mỗi đêm, các bạn có thể nhìn trời đất để học về lòng bao dung. Nhìn đường đi của kiến để biết về sự nhẫn nhục.

Sông vẫn chảy đời sông. Suối vẫn trôi đời suối. Ðời người cũng để sống và hãy thả trôi đi những tị hiềm, phải vậy không? Chỉ cần có tấm lòng thì bất cứ nơi đâu các bạn cũng có thể học được những bài học vô giá.

Dòng đời chia rẽ, quanh co phân thành trăm nẻo để người đi trăm hướng, biết đến khi nào mới có duyên gặp lại? Hay chỉ trong giấc mơ kịp về đêm bạn mới bên tôi để ôn lại bao kỷ niệm buồn vui. Để rồi khi giấc mơ được đánh thức bởi còi tàu xa xa hay tiếng mưa bất chợt may ra ta còn chút gì để nhớ?!

Đừng để đến lúc ly biệt rồi mới thấy tiếc nuối những ngày tháng tương phùng. Đừng để tới giờ chia cách rồi mới bàng hoàng nghĩ đến những phút giây gặp gỡ, trong bài thơ "Một chuyến giã từ…" thi sĩ Măc Giang đã có những câu thơ mà người đọc phải khóc:

"…Mỗi ly biệt, biệt ly là thế đó!

Phút biệt ly tìm lại khó muôn vàn

Nếu biết vầy tôi không vội bước ngang

Nhìn lặng lẽ cho tơi khi mờ lối…

…Nước đi hai ngả còn chờ

Sông đi hai ngả còn mơ cuối dòng

Người đi thôi thế là xong

Người về thôi thế buồn không đêm dài…"

Biết vậy sao ta không thể sống tốt hơn trong phút giây hiện tại? Chỉ một chút tấm lòng thôi, một chút thôi cũng khiến cho đời mình có những lúc trọn vẹn. Mơ ước chính đáng và trọn vẹn quá phải không? Vậy mà mấy ai chẳng chịu biến nó thành sự thật.

Dường như con người ta mong ước được hạnh phúc nhưng lại câu nệ cợt đùa trong bi kịch, và cuộc đời là những bi kịch trường kỳ, chứ đâu phải giấc mộng lớn, giấc mộng con! "Một mai nhức nhối hoàng tuyền" của Mặc Giang có thể cho chúng ta rõ điều này.

Và giấc mơ vật chất như Trụ Vũ:

"Giấc mơ bé nhỏ vô cùng

Một căn nhà lá, đôi vòng khoai lang

Thế thôi mà lạy mười phương

Ba mươi năm lẻ chưa tròn giấc mơ"

Mà cũng khó thực hiện, huống nữa lại là giấc mơ, mọi người cần có trái tim yêu thương để chia sớt cho nhau.

Đọc thật nhiều thơ-ca của Mặc Giang ta mới có thể hiểu được phần nào tâm trạng và cảm xúc của thi sĩ muốn gửi gắm mà ông đã chắt lọc vào trong từng lời thơ-ca. Hiểu được phần nào tâm trạng và cảm xúc của thi sĩ cũng chính là hiểu được "một tấm lòng" của một con người, đời người, đang dâng tặng cho cuộc đời và đây cũng chính là thông điệp mà ông muốn gửi đến với con người. "một tấm lòng" tuy là đơn vị chỉ cho số ít, nhưng trong số ít "một tấm lòng" này lại bao hàm tất cả những tình cảm của con người trên thế gian.

Ở trong "Một cõi đi về" của Trịnh Công Sơn ông cũng đã diễn tả "một tấm lòng" bằng cách nhạc sĩ dùng cụm từ "con tim yêu thương vô tình chợt gọi", còn thi sĩ Mặc Giang thì "tôi muốn làm một em bé thơ, để cuộc đời khôn ngoan hạnh phúc cho người…" (nhạc phẩm Mỉm cười tôi vẫn là tôi).

Có lần nhà thơ nói : "cuộc đời này, tôi không sợ mất bất cứ một cái gì cả, chỉ sợ con người mất tấm lòng mà thôi"! Đúng vậy, mất tấm lòng là mất tất cả các bạn a. Cuộc đời này sẽ trở nên vô nghĩa và chẳng đáng để sống một khi bạn đã đánh mất nó.

Chúng ta sẽ cảm thấy thua lỗ còn hơn cả một người lái buôn mất hết vốn liếng, bởi người lái buôn mất hết vốn liếng họ còn có thể làm lại được, "con người sản xuất ra của cải mà" lo gì, chứ nếu đánh mất đi tấm lòng là bạn sẽ mất sạch. Vô tình bạn đã tự xóa mình trong xã hội, trong quần chúng và trong lòng người.

Tất cả tất cả chính là một "tấm lòng" – tấm lòng mà mỗi con người sống trong đời sống cần phải có. Có thể được gọi là một con người, có thể không bị coi là người thất bại – bởi tấm lòng mới chính là sự nghiệp lớn nhất mà mỗi chúng ta cần đạt được, đó chính là đỉnh cao của sự nghiệp trong thế gian này.
Còn nhiều cõi lòng hơn thế mà chúng ta cần học hỏi, học hỏi để tô bồi nhân cách, để sống với chân thiện mỹ và điều quan trọng nhất là để được gọi con người. Tấm lòng được thể hiện từ cái nhỏ nhặt nhất cho đến cái thiêng liêng nhất, từ tình người tình làng xóm, bà con đến tình thầy bạn tình cha mẹ và đến tình yêu, tất cả có thể được gọi là chân tình khi thật sự biết nghĩ về nhau bằng tâm bình đẳng và thành thật.

Có lẽ theo tôi, tình cảm luôn là bài học lớn mà cuộc đời muốn mọi người phải thực hiện và sống với cho đến khi đạt được "tình thương yêu mầu nhiệm".

Một tấm lòng không phải điều gì cao xa, khó hiểu, đứa trẻ cũng có thể có tấm lòng để thương yêu, cho đến người già cũng có tấm lòng để thương yêu. Cuộc đời sẽ đẹp biết bao khi mọi người luôn thể hiện tình cảm với nhau, thật bình dị mà ý nghiã nhất.

"Sống trong đời sống cần có một tấm lòng", có thể tôi và hết thảy mọi người đều hiểu ý nghĩa câu này. Nhưng "để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi", thì thật sự rất nhiều người không thể hiểu được. Không biết bao nhiều lần tôi đã băn khoăn cố tìm cho mình câu trả lời nhanh nhất và hợp lý nhất, nhưng càng trả lời tôi càng thấy mình không đúng.

Và cuối cùng tôi suy nghĩ hãy cứ sống rồi thời gian và kinh nghiệm sẽ trả lời câu hỏi trên, sẽ trả đáp sự băn khoăn trong lòng mỗi người. Tôi tin chắc rằng mỗi người sẽ có câu trả lời khác nhau nhưng cùng chung mẫu số, đó là sự hướng thượng và hướng thiện. Tôi cũng đã kịp tìm ra cho mình câu trả lời tại sao cuộc đời cần có một tấm lòng mà chỉ để gió cuốn đi.

Cả nhạc phẩm, Trịnh Công Sơn đã đi từ cái khái quát đến cái cụ thể, đi từ cái chung rồi dần dần mổ xẻ ra những cái riêng. Khái quát từ "sống trong đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi" đến cái cụ thể "những khi chiều tới, cần có một tiếng cười để ngậm ngùi theo lá bay, rồi nước cuốn trôi", cụ thể trong cả cái nhìn "hãy nghiêng đời xuống nhìn suốt một cuộc tình, chỉ lặng nhìn không nói năng để buốt trái tim", và cụ thể ngay trong lời nhắc nhở "hãy yêu ngày tới dù quá mệt kiếp người, còn cuộc đời ta cứ vui dù vắng bóng ai". Cười mà để ngậm ngùi, nhìn mà để buốt tim, yêu mà để mệt kiếp người, vui mà để xa ai …tất cả như một sự gượng ép.

Nhưng không, bởi cuộc đời này lắm lúc trải nhung lụa trên chông gai, đến vinh quang thì phải qua thử thách. Cho nên cười mà để ngậm ngùi, ngậm ngùi cho kiếp nhân sinh vẫn có quá nhiều đau đớn trong những giây phút hạnh phúc ngắn ngủi. Nhìn mà để buốt tim, buốt tim bởi cuộc đời có quá nhiều ngang trái bên những phút bình yên ngắn ngủi.

Yêu mà để mệt quá kiếp người, mệt kiếp người bởi những dối gian bên những tấm chân tình ít ỏi. Vui mà để xa ai, xa bởi cuộc đời luôn có mầm ly biệt bên những phút giây hội ngộ. Cuộc sống có mấy ai được gọi là trọn vẹn?… Chỉ mong sao đừng có "từng bàn tay thô lấp kính môi cười", đừng có "từng cuộn dây gai xé nát da người", vì tất cả chẳng làm nên được gì ngoài sự bất hạnh, thương đau.

Để gió cuốn đi một cõi lòng không phải là cõi lòng đó sẽ bị chôn vùi vào dĩ vãng. Cơn gió chỉ là một hình ảnh trượng trưng cho cái gì có thể ban trải rộng rãi khắp nơi. Cơn gió bao trùm lên vạn vật, len lỏi vào bao ngõ ngách. Vâng, cơn gió sẽ mang tình thương hòa vào vạn vật. Ở đâu có cơn gió, ở đó có thông điệp của tình thương.

Mong muốn này mà thành sự thật thì cuộc đời này đâu có những đớn đau? Song, mơ ước muôn đời vẫn chỉ là mơ ước, có mấy khi mơ ước thành sự thật giữa trần gian?! Thế nhưng, ta hãy cứ mơ ước, bởi mơ ước chính là động lực thúc đẩy ta đi lên. Chốn Địa Đàng hay nẻo Thiên Thai cũng đều là những nơi mà TCS cùng Văn Cao mơ ước cho mọi người được sống, cũng chẳng khác nào chúng ta nguyện sanh về Tây Phương Cực Lạc, hay cõi Thiên Đàng.

Gió sẽ mang yêu thương hòa cùng nhịp đập con tim của hàng triệu, hàng triêu người để có phút giây ta tự hỏi "tôi là ai mà còn khi giấu lệ? tôi là ai mà còn trần gian thế? Tôi là ai, là ai mà yêu quá đời này?". Cuộc đời này sẽ thật sự có ý nghĩa khi tình thương hiện hữu! Rồi bạn sẽ trở thành "người hạnh phúc" khi cuộc đời bạn được mọi người thương yêu!

Cây cầu xưa liệu có gãy khúc không? Ngôi nhà hạnh phúc liệu có đủ vững vàng trăm năm để chúng ta hội ngộ trải rộng lòng thương sống với nhau không?… Xin tất cả mọi người đừng đánh mất những gì mình đã gây dựng được cho nhau. Gặp nhau, hãy chân thành chắp tay để tự nhủ lòng mình:

"Cảm ơn đời đã cho ta gặp gỡ

Giấc mộng nào tan vỡ lại thành tên"

Ngày tháng cũ dù có vật vờ như trăng mộng, thì cũng xin hãy ấp ủ cho nhau những tình thương giữa cuộc đời.

Chúng ta, mỗi người có một con đường, một quan niệm và phương cách sống, nhưng phải biết làm sao để tình thương có mặt, nụ cười hiện hữu, phải biết làm sao để câu nói "tôi là em và em cũng là tôi" trở thành sự thật chứ không phải chót lưỡi đầu môi.

Viết về "một tấm lòng" tôi không thể nào nói hết, bởi ngôn ngữ trần gian không đủ sức lộng lẫy. Những lời nói trên đây chỉ là đoản khúc ghi lại những cảm nhận của mình về tình người để cuộc sống này đẹp hơn và thật sự có ý nghĩa hơn !

Một tấm lòng, một con tim hay một thông điệp mà Mặc Giang nhắn gởi : "Cho dù 10 năm, 20 năm, 30 năm. Năm mươi năm nửa kiếp còn dư, Trăm năm sau sỏi đá còn mềm. Tôi quặn thắt ôm núi rừng cô đọng. Tôi quặn thắt nhìn biển gầm gió lộng. Ước gì còn bé nhỏ như ngày xưa, để không thấm cuộc đời nhiều tan vỡ…"

Vườn hoa Phật giáo

10:42 pm
December 31, 2014


khahan

khahan
Admin

posts 11748

Khoảng cách giữa lý thuyết và thực hành

Cái “khoảng cách” từ lý thuyết tới thực hành, đối với người này thì rất gần, nhưng đối với người khác thì rất xa. Do đó tuổi tác lâu mau không phải là quyết định nhanh chậm của con đường tu hành. Mà cái chính là chúng ta có biết áp dụng lý thuyết vào thực hành cho đúng hay không mà thôi.

 

Ảnh minh họa -Nguồn: Internet

Đối với khoa học, thì người ta dùng thí nghiệm và thực nghiệm, để chứng minh cho lý thuyết của mình là đúng. Còn về việc tu tập rèn luyện để có tư tưởng, thì người ta phải cần có kinh nghiệm và trãi nghiệm, trong cuộc đấu tranh với cuộc đời của chính mình. Vì kinh nghiệm là bài học được rút ra từ ý thức, và nó sẽ tạo ra kỷ năng tay nghề chuẩn xác cho chúng ta trong lao động. Còn trãi nghiệm là những thắng lợi về tinh thần, thông qua những đau khổ đắng cay trong tình cảm, tình yêu của mình.

Chắc ai cũng biết giữa lý thuyết và thực hành, đều có một khoảng cách nhất định. Và cái “khoảng cách” đó là rất dài rất xa, vì nó là vô hình mà. Đó chính là “khoảng cách” giữa hai hàng chữ trên trang sách, mà chúng ta đọc mỗi ngày. Nếu ai đọc được những hàng chữ vô hình ghi ở chỗ đó, thì mới nhìn thấy được cái “khoảng cách” giữa lý thuyết và thực hành như thế nào.

Lý thuyết luôn luôn có một “khoảng cách” với thực hành, dài ngắn khác nhau, là tùy vào nhận thức của mỗi người, chứ không phải lý thuyết là khác với thực hành. Vì nếu bạn thấy nó giống với thực hành là sai, mà bạn lại thấy nó khác với thực hành, thì cũng là sai luôn.

Tuy nhiên nếu không có lý thuyết định hướng trước, thì thực hành sẽ không biết sẽ đi về đâu và làm gì. Nhưng khi chúng ta thực hành y chang với lý thuyết, thì sẽ không thể thấy được cái “khoảng cách” đó. Và nếu chúng ta học và làm như thế, thì sự học tập lý thuyết, và công việc lao động thực hành của chúng ta, sẽ không có kết quả cao hoặc là sẽ thất bại thôi.

Vì phải học tập và nắm vững lý thuyết rồi mới thực hành, thì mới có kết quả tốt được. Vì giữa lý thuyết và thực hành, luôn có một “khoảng cách” để đối chiếu và so sánh, kiểm chứng lẫn nhau, thì chúng ta mới hiểu đúng và làm đúng, trong những yêu cầu thực tế của công việc.

Bởi vì trong lý thuyết chúng ta rất khó nhận ra chử “thời”. Vì cũng việc đó mà chúng ta làm trong trường hợp này thì đúng, nhưng làm trong trường hợp khác là sai. Vì chử “thời” này là rất quan trọng. Vì nó không thể ghi ra văn bản được, mà nó chính là trãi nghiệm và kinh nghiệm của mỗi cá nhân con người chúng ta, thông qua việc thực hành lao động của chính mình.

Vậy chúng ta có thể nói rằng, “khoảng cách” giữa lý thuyết và thực hành, đó chính là chữ “thời” vậy. Và chữ “thời” này chỉ có thể sinh ra ở giữa hai chữ “kinh nghiệm và trãi nghiệm” mà thôi.

Vì người có kinh nghiệm sống từng trãi trong cuộc đời, đôi khi không học hành gì cả nhưng lại thành công rất lớn. Ngược lại những học giả, những con nghiện sách vở cứ sống mãi trong các tinh cầu lạnh giá, thì làm cái gì cũng thất cơ lỡ vận hết trơn. Vậy hiểu được chữ “thời” là nắm được cơ hội thành công. Tuy nhiên muốn có được điều đó, thì chúng ta phải sống thật mạnh mẽ, và phải giỏi về lý luận cũng như thực hành lao động liên tục, miệt mài không ngừng nghỉ.

Đối với khoa học, thì người ta dùng thí nghiệm và thực nghiệm, để chứng minh cho lý thuyết của mình là đúng. Còn về việc tu tập rèn luyện để có tư tưởng, thì người ta phải cần có kinh nghiệm và trãi nghiệm, trong cuộc đấu tranh với cuộc đời của chính mình. Vì kinh nghiệm là bài học được rút ra từ ý thức, và nó sẽ tạo ra kỷ năng tay nghề chuẩn xác cho chúng ta trong lao động. Còn trãi nghiệm là những thắng lợi về tinh thần, thông qua những đau khổ đắng cay trong tình cảm, tình yêu của mình.

Và nếu bạn có lý thuyết rồi, mà thực hành và có được kinh nghiệm và trãi nghiệm tốt, thì bạn sẽ biết được lý thuyết đó đúng hay là sai liền. Vì nếu lý thuyết nào phản khoa học và trái tự nhiên, thì lý thuyết đó là sai. Vì làm việc có khoa học thì bạn mới có kinh nghiệm được, cũng như khi bạn làm điều đó, trong một tinh thần hứng thú đam mê rất tự nhiên, thì mới có kết quả cao chứ. Và điều đó chứng tỏ rằng công việc của bạn làm rất khoa học, và phù hợp với tự nhiên, vì bạn đã áp dụng đúng lý thuyết rồi.

Do đó học đi đôi với hành, là rất cần thiết cho sự thành bại của đời người. Vì chính hai điều này thông qua việc học tập và lao động đúng hướng, thì nó sẽ phát sinh trí tuệ và gầy dựng hành trình đạo đức hướng thiện cho chúng ta. Vì thật sự khi bạn đối diện với cuộc đời là vô hình mù mịt, nhưng khi bạn có tin yêu và học tập lao động miệt mài, thì cái màn đêm vô hình mù mịt kia, dần dần sẽ được khai sáng. Vì bạn phải có đạo đức trong công việc, trong nghề nghiệp, thì bạn mới có đạo đức với con người được. Vì rằng công việc bạn làm phải thõa mãn cho bạn, và cho cả đối tác nữa thì mới gọi là làm tốt được. Và chính điều đó không biết sẽ thu lợi được bao nhiêu, nhưng nó đã không làm bạn hối tiếc hay ân hận cắn rức gì là được rồi.

Và thông qua việc học tập và lao động phấn đấu của mình, mà đã tạo ra tâm thế vững chắc như một cây cao, có gốc rễ mạnh mẽ chịu đựng được tất cả song gió của cuộc đời, thì đó là bạn đã thành công và hạnh phúc rồi. Vì thành công và hạnh phúc là có ngay đây trong hiện tại này, mà bạn chỉ cần bước đến cầm lấy nó lên thôi. Vì bên trong con người chúng ta, ai cũng có một trữ lượng hạnh phúc rất lớn, nhưng chỉ có điều là chúng ta không biết đó thôi, nên chúng ta mới đau khổ quá chừng. Và vấn đề là mỗi bước đi của chúng ta đến thành công và hạnh phúc, thì phải luôn học tập và thực hành lao động miệt mài không ngơi nghỉ.

Vậy thông qua học tập lý thuyết và thực hành đúng đắn, thì nó sẽ đem lại cho chúng ta sự hiểu biết đúng đắn, với các hệ giá trị đích thực trên đời này, một cách không ảo tưởng hoang đường như trong mơ. Và thông qua đó chúng ta cũng rút ra được thái độ sống hòa hợp với mọi người, với môi trường làm việc của mình trong xã hội…

Vậy thông qua lý thuyết và thực hành, sẽ giúp cho chúng ta nhìn thấy mình trong tha nhân, và cũng nhìn thấy thiên hạ có trong trái tim mình. Và chính điều này đã cho chúng ta thấy được cảm nhận của người khác, nên chúng ta có khả năng cảm thông với nhau hơn. Còn những kẻ chỉ biết có mình, mà chẳng hề quan tâm đến cảm giác của người khác, thì tất nhiên trong việc học và thực hành của bạn đã sai rồi.

Vì bạn được gọi là “thắng lợi” thì bao giờ bạn cũng có tư duy mở, và một tấm chân tình vị tha rộng lượng. Vì chính điều đó là dấu hiệu cho thấy rằng bạn đang phát triển không ngừng, chứ không phải là sắp bế tắc. Ngược lại bạn làm gì không biết, nhưng bạn sống trong đau khổ ích kỷ quá, thì bạn đã thất bại rồi. Vì chỉ có mình mới có khả năng đem lại hạnh phúc hay khổ đau cho chính mình mà thôi.

Vì sự nghiệp lớn nhất trên đời này, là cải tạo đời sống và thay đổi con người mình, để tiến đến sống trong một môi trường sống đầy đủ và hạnh phúc như ý.

Vậy cái “khoảng cách” giữa lý thuyết và thực hành là gì? Đó chính là cái “khoảng nối” giữa tâm và vật, giữa khoa học và tự nhiên. Do đó bây giờ chúng ta cần đi sâu vào tìm hiểu hai cái “khoảng nối” đó là như thế nào.

 Vậy cái “khoảng nối” giữa tâm và vật của chúng ta có gì?

Đó chính là sự nhận thức sai lệch của tâm, đối với sự vật về thật tánh của nó. Vì nếu bạn chỉ quan sát sự vật bên ngoài thôi, thì bạn sẽ thấy nó rất đơn giản như một vật đứng yên, vô tri vô giác được gọi là vật chất, và có tính đơn chất thôi. Nhưng khi chúng ta nhìn sâu vào thực thể của nó, thì chúng ta sẽ thấy nó được tạo ra bởi rất nhiều chất khác nhau. Và đó chính là con đường khám phá vật chất của khoa học. Và vì nó do nhiều chất kết hợp lại mà thành, nên nó sẽ không đứng yên như chúng ta vẫn tưởng, theo quan sát hàng ngày của chúng ta đâu.

Do đó cái “khoảng nối” giữa tâm và vật chính là thật tánh của các pháp.

Và khi chúng ta học lý thuyết thì sao. Vì lý thuyết là như thế, nhưng khi chúng ta áp dụng thì nó sẽ tùy thuộc vào từng cấp độ, nhận thức cao thấp khác nhau của mỗi người, nhận thức về nó như thế nào. Do đó khi cùng học một trường, và ra trường làm cùng một công việc như nhau, nhưng thành quả đạt được của mỗi người là luôn khác nhau.

Vì nếu như ai nắm được cái căn bản yếu tính cốt lõi của lý thuyết, thì sẽ biết vận dụng lý thuyết đó một cách linh hoạt và chính xác hơn. Vì đơn giản lý thuyết chỉ là phương tiện để cải tạo đời sống mà thôi. Thì nó chính là phương tiện lớn nhất, để tạo ra rất nhiều phương tiện mới khác nữa, để ứng dụng vào việc khai thác vật chất có lợi cho ta. Còn nếu bạn chỉ hiểu một cách hình thức, thông qua các khái niệm chỉ dẫn của lý thuyết thôi, thì bạn sẽ không biết cách biến hóa, để áp dụng trong cuộc chiến đấu của mình, và do đó chắc chắn thành công của bạn cũng sẽ rất hạn chế vậy.

Còn “khoảng cách” giữa khoa học và tự nhiên là gì?

Đó chính là cái “khoảng nối” giữa các pháp hữu vi và vô vi. Vì khoa học là để khám phá cái thế giới hữu vi, còn tự nhiên thì được điều khiển bằng đạo lớn vô vi. Do đó khoa học là sự nghiên cứu khám phá vật chất, có tính chính xác tuyệt đối, theo tư duy logich hợp lý đi tới phía trước, theo đường thẳng một chiều mãi. Và nó chỉ giải quyết được một mặt của cuộc sống con người thôi. Còn tự nhiên thì vận hành qua lại như con lắc đồng hồ, nên nó có tính tương đối. Và đó là sự vận hành đi tới, rồi lại đi lui, và đi lui rồi lại đi tới. Có nghĩa là nó đi tới thuận chiều bên này và đi lui ngược chiều bên kia, nên nó luôn có trạng thái cân bằng, trong hai mặt của nó nếu gộp chung lại làm một. Và sự vận động đó, thì được biểu thị bằng một đường tròn gọi là minh triết, gồm cả vô vi và hữu vi luôn.

Vậy minh triết vốn đã có chứa cả khoa học trong đó rồi. Còn khoa học thì vẫn còn thiếu một chiều nữa, mà nó không thể dùng thực nghiệm, thí nghiệm để chứng minh được. Đó chính là chiều không gian tâm linh, tâm thức của con người mang tính nhân bản. Do đó nếu khoa học mà cứ đi tới mãi, là một sai lầm lớn luôn. Vì khoa học có thể sinh ra những phát minh lớn, mà nó không phù hợp với tính nhân bản của con người, thì nên dừng lại đi. Vì thực chất con người dùng khoa học như là một phương tiện để phục vụ cho mình, chứ không phải là để hãm hại chính mình.

Do đó khoa học là để phục vụ đời sống con người, còn tính nhân bản là để hướng đời sống đó, đi tới chỗ sinh tồn cho con người có ý nghĩa cao nhất. Cho nên “khoảng cách” giữa khoa học và tự nhiên, chính là tính nhân bản vậy.

Vì thế trên bề mặt văn bản lý thuyết thì sẽ có giới hạn. Và nhân bản chính là cái hướng mở rộng ra của nó là vô hạn. Cho nên bất cứ lý thuyết gì, đều phải có cơ sở khoa học và hướng đến tính nhân bản, thì mới có giá trị đích thực. Và khi chúng ta thực hành theo lý thuyết đó, thì mới phù hợp với khoa học và tự nhiên. Và đó chính là sự tồn tại của con người, đã được bảo vệ bằng cái thiện. Vì thế tính nhân bản là có nội hàm rất sâu xa, mà chúng ta muốn diễn tả nó bằng ngôn ngữ thì cũng không hết được. Và nếu ai nắm được cái lý thuyết có tính khoa học và nhân bản này, thì người đó sẽ có tự do trong thực hành một cách chính xác, linh hoạt và tốt đẹp nhất.

Do đó như đã nói ở trên, khoảng cách giữa lý thuyết và thực hành gồm có ba thứ. Thứ nhất là chữ “thời”, thứ hai là thật tánh của các pháp, thứ ba là tính nhân bản.

Vậy biết thật tánh của các pháp, là biết rõ đối tượng là như thế nào. Có nghĩa là chúng ta đã biết rõ lý thuyết đó có cơ sở khoa học là như thế nào rồi. Còn cái biết về nhân bản, là mình phải biết rõ về mình nữa. Và khi chúng ta biết rõ về lý thuyết rồi, cũng như chúng ta biết mình cần gì ở cái lý thuyết đó. Thì chúng ta sẽ biết cách thu nhận nó, chính xác với như cầu của chúng ta hơn. Sau đó chúng ta thực hành nó thì áp dụng chử “thời” vào nữa là xong. Và đó chính là khi chúng ta đã “biết mình biết ta” rồi, thì áp dụng nó đúng thời điểm của thực tế, thì coi như là thành công thôi.

Ví dụ như bây giờ chúng ta đi nghe quý thầy giảng pháp, nghe nói tới cái thiện cái ác, ăn chay làm lành, tụng kinh niệm Phật, rồi kinh này kinh kia đủ các pháp hết. Và chúng ta nghe như vậy, thì đa số chúng ta đều nghĩ đó chính là Phật pháp rồi. Nhưng đối với trình độ của những người xuất gia, dấn thân cầu pháp giải thoát của Phật, thì phải biết rõ pháp mà mình đang nghe đó là pháp gì? Và nó có thể đưa mình đi theo con đường giải thoát được hay không?

Vì Phật pháp mới nghe qua nào là trí tuệ, từ bi hỷ xả, nhân quả nghiệp báo, này kia thì thấy cũng suông rồi, và đó chỉ là lý thuyết thôi. Nhưng chúng ta phải biết rằng: Trong Phật pháp cũng có pháp tục đế và pháp chân đế, thuộc lý tưởng và chân lý. Và người nào muốn tu hành giải thoát thật sự, thì phải hướng vào con đường tu chứng theo pháp chân đế, thì mới được.

Vì tận cùng của pháp tục đế, là tu phước đức hữu vi tới cỏi trời là hết. Còn tận cùng của pháp chân đế, là tu tới cỏi Phật giải thoát khỏi sinh tử luân hồi. Do đó chúng ta nghe pháp tục đế, và phải ráng thấu hiểu nó và bỏ đi, rồi sau đó chúng ta nghe pháp chân đế, thì mới áp dụng tu chứng được. Vì pháp tục đế chẳng qua chỉ là chỉ để an ủi, theo kiểu dùng tha lực để đối phó tình huống thôi. Còn pháp chân đế thì nếu bạn không chứng thiền, thì sẽ không hiểu được, vì nó là pháp tự lực mà. Vì thế cho nên pháp chân đế là rời khỏi lý thuyết rồi, nên nó tự do bay cao trên trời, không cần xác định phương hướng gì hết á.

Vì khi chúng ta thiện mà biết mình thiện, thì đó là bất thiện rồi. Do đó khi mình làm việc thiện, với cái tâm vô ngã không biết mình làm thiện gì hết, thì đó mới chính là cái thiện chân đế “vô sở trụ”. Và cái thiện đó là giải thoát, vì tâm chúng ta rỗng rang nhẹ nhàng quá mà. Vì cái thiện đó là không có phan duyên tác ý, mà nó tự nhiên như mây bay trên bầu trời vậy. Cái đó chính là cái thiện tĩnh lặng bên trong chân tâm niết bàn. Là cái gốc của thiện ác tục đế thế gian. Và cái thiện này là vô tác, vô ngã nên không nói ra được đâu.

Còn cái thiện mà chúng ta phân biệt được bằng ý thức, hay được ghi trong sách, hay nghe các thầy giảng, thì đó là cái thiện tục đế.  Cái thiện này chỉ ngang với đạo đức học của ông Khổng Tử thôi. Đó là các pháp hữu vi của đời sống, vì ông Khổng Tử này chẳng biết tý gì tới pháp vô vi hết á. Và đó cũng chính là “pháp nạn” của Phật Giáo Trung Quốc. Vì chúng ta tu theo Phật, nhưng lại tu nhầm vô pháp của ông Khổng Tử, thì hỏi làm sao giải thoát thành Phật được đây trời. Do đó Phật Giáo Việt Nam ta, thì có gốc từ Phật Giáo Tổ Sư của Trung Quốc, nên cũng chẳng khá gì hơn đâu. Và pháp Phật kiểu đó là cách tu “thập thiện” để có phước đức hữu vi, giàu sang may mắn trong hiện đời này thôi. Nhưng phước đức hữu vi đó cũng là cái nhân của đau khổ, và sinh tử luân hồi về sau. Cho nên mấy cái gọi là tu “thập thiện” đó, nếu đem so với cái thiện chân đế thì nó là bất thiền rồi. Vì nó là cái thiện để đối nhân xử thế bên ngoài đời sống con người mà thôi.

Tuy nhiên cái thiện tục đế, nó sẽ giúp chúng ta hướng thiện thì cũng tốt rồi. Và từ tích môn bên ngoài, chúng ta hướng thiện từ từ đi vào bản môn bên trong, rồi sẽ gặp cái thiện chân đế giải thoát kia thôi. Do đó tu phước đức tới cỏi trời thì vẫn chưa chạm tới chánh pháp đâu. Vì thế cũng là đi tu và khi chúng ta nghe pháp ào ào như vậy, nhưng khi chúng ta thực hành thì ứng dụng nó không được. Và cứ thế là chúng ta tu hoài tu mãi vẫn nằm ỳ một chỗ luôn.

Vậy phải tu làm sao để biết được cái “khoảng cách” từ lý thuyết tới thực hành trước cái đả. Và chúng ta phải biết rõ trình độ của mình đang ở đâu, và biết pháp kia là pháp cở nào thì mới được. Sau đó nếu thấy hướng đi phù hợp với mình rồi, thì cứ thế thông thả mà đi lên thôi.

Vườn hoa Phật giáo

1:00 am
January 21, 2015


khahan

khahan
Admin

posts 11748

Lá rụng về đâu?

“Con đang đợi ai à?”

“Ðợi gió!” – Tôi suýt trả lời như thế với câu hỏi bất ngờ cất lên từ phía sau.

“Dạ thưa thầy, không ạ!” – Tôi kính cẩn chắp tay chào thầy trụ trì – “Con đang suy nghĩ để hoàn tất bức tranh này thôi. Thầy xem, những chiếc lá này con phải vẽ chúng rơi vào khoảng nào là đẹp nhất ạ?” 

Ảnh minh họa -Nguồn: Internet

Tôi mở cho thầy xem bức tranh tôi vẽ đường đi của gió, có mấy chiếc lá bồ đề đang bay lơ lửng chưa rõ hướng rơi. Thầy cười hiền lành, chân tín: “Thì lá rụng về cội chớ về đâu con!”

Tôi cuốn bức tranh lại, như nói với chính mình: "Vâng, giá mà được như vậy!"… Tôi bỏ lửng câu nói và thầy mỉm cười, nhẹ nhàng đi vào trong.

Năm ngoái, tôi đến ngôi chùa này để vẽ. “Chùa trong thành phố” là đề tài mà tôi ấp ủ. Những ngôi chùa cổ kính, rêu phong, nằm tách biệt với đô thị ồn ào đã đi vào tác phẩm của biết bao bậc đàn anh, tôi biết khả năng mình không chen vào lối mòn ấy được, nên cố tự tìm cho mình một lối đi khác. Tĩnh lặng trong sự ồn ào, đó là điều không dễ. Cuộc sống công nghiệp gấp gáp, một làn khói nhang quyện lẫn vào trong khói xe có làm cho người ta vài phút giây lắng lại?

Chùa nằm trong vòng vây của đủ loại tiếng ồn. Những âm thanh hòa trộn vào nhau tạo ra một cái gọi là “âm thanh phố thị”, mà khi đã quen, ta như không còn nghe thấy nó nữa. Khoảng sân rộng vuông vắn, ngay ngắn những hàng cây kiểng được chăm sóc kỹ càng. Giữa sân là một cây bồ đề cổ thụ rợp bóng. May mà người ta không thể chăm sóc nó theo kiểu chăm sóc những cây kiểng nhỏ kia. Nó tha hồ vươn ra, xòa xuống những tán lá vàng, xanh, rách, lành lẫn lộn, để khi có những cơn gió dạo qua thì còn có cái để mà rụng rơi.

Buổi trưa hôm ấy thật là vắng vẻ. Bất chấp những âm thanh của phố ong ong ngoài kia, tiếng chim trong vòm lá trong trẻo cất lên làm cho ta có cái cảm giác yên ắng thật tuyệt vời. Chùa cũng là một cơ sở phật học cho nhiều tăng ni về đây học tập nên rất đông người, chỉ có buổi trưa thì đôi lúc còn được yên tĩnh. Tôi đang sung sướng tận hưởng những giây phút hiếm hoi, lắng nghe tiếng gió, tiếng chim, thả rộng tầm mắt mà không vấp bóng người… thì lại thấy thấp thoáng dưới cội bồ đề dáng một chiếc áo lam. Một vị tu sĩ trẻ khoảng 20-25 tuổi đang cúi lượm những chiếc lá trên sân. Tôi thầm chán nản nghĩ: "Lại một sự chăm sóc quá đáng! Mảnh sân đã quá sạch sẽ rồi, có mấy chiếc lá rơi để coi chơi mà cũng đi nhặt sạch!" Nhưng hay kìa! Vị ấy chỉ nhặt qua loa vài chiếc lá bỏ vào gốc cây rồi đi vô. Tôi thầm cám ơn sự lười biếng, cẩu thả ấy. Thế nhưng hôm sau, rồi hôm sau nữa, đúng vào giờ ấy, vị tu sĩ kia lại đi ra và lập lại công việc như hôm trước. Tôi quan sát kỹ thì thấy vị ấy nhặt lá một cách rất trang nghiêm, và hình như chỉ vừa đúng 8 chiếc lá, không hơn không kém. Cúi nhặt, nhìn ngắm, rồi cẩn thận xếp vào gốc cây! 

Ðến ngày thứ sáu thì tôi không nén nổi tò mò. Sau vài ngày làm quen và tìm hiểu, tôi được biết, Ðạo Trí – pháp danh của vị ấy – vào chùa từ năm 6 tuổi. Ðược thầy hết lòng thương yêu vì tính tình ôn hòa, kiên nhẫn, chịu khó. Suốt mười hai năm ở trong thiền viện, Ðạo Trí là niềm hy vọng của thầy, của các huynh đệ, bởi đạo hạnh và công phu tu.

Năm ấy, thiền viện mở khóa tập tu cho tăng ni sinh một số chùa. Dịp này Ðạo Trí đã quen với Tâm Nhân. Hai người nhanh chóng trở thành bạn thân với nhau bởi Tâm Nhân tỏ ra gần gũi và rất đồng điệu với Ðạo Trí. Tuổi mới lớn, ở thiền viện lâu năm, chung quanh là thầy và các huynh trưởng, dẫu yêu thương nhưng luôn nghiêm khắc, Ðạo Trí không có dịp bày tỏ những suy nghĩ vu vơ lãng mạn của mình. Như một trái gòn, ém trong mình một số lượng bông mà chính nó cũng không thể rõ hết, nay được nứt vỏ, trở mình, nó nghĩ rằng nếu được sổ tung ra, thì chắc nó sẽ nặng hơn trọng lượng mà nó có. Tuổi mười tám dễ dàng kết thân và trở thành bạn tâm đầu ý hợp với những ai tỏ ra ra quí phục, biết lắng nghe và tỏ ra đồng điệu với mình. Tâm Nhân đã mang đến cho Ðạo Trí những điều mà ở thiền viện mọi người không có. Tất cả những nỗi lòng, tâm sự, ước mơ… (mà trước đây Ðạo Trí không nghĩ rằng mình cũng có những điều như thế) được trút ra. Một cây bút chì khi nằm trong tay đứa học trò lớp vỡ lòng, nó chỉ viết ra được những chữ cái, đến khi gặp một kiến trúc sư thì nó tưởng rằng mình có thể làm nên những ngôi nhà, (mà quên rằng trên đầu mình còn có một cục tẩy và bên cạnh còn có sẵn một cái dao gọt viết!)

Thế rồi Ðạo Trí trốn thầy “xuống núi” theo Tâm Nhân về ngôi chùa này để đi học. “Phải học hành đàng hoàng trước đã, đó là điều chắc chắn đúng trong thời đại ngày nay, người tu sĩ cần phải có một trình độ học vấn uyên thâm mới mong đem đạo pháp đến gần với cuộc sống hiện đại, công việc hoằng pháp mới thuận lợi được; thầy đang còn trẻ và với khả năng của mình, nếu được học hành đến nơi đến chốn sẽ tiến rất xa!”, đó là lời khuyên của Tâm Nhân.

Không biết Ðạo Trí sẽ tiến xa đến đâu, nhưng trước mắt là cách sống và suy nghĩ của Ðạo Trí đã phải khác trước. Bước đầu là hình thức bên ngoài, cũng vẫn ba màu áo ấy nhưng chất liệu vải nay đã khác; cũng vẫn chỉ đôi dép đỡ chân nhưng nay phải êm hơn; từ chiếc xe đạp cà tàng để đến trường, nay vì thời gian gấp gáp, phải thay bằng chiếc xe máy mới theo kịp giờ giấc học tập từ lớp Phật học đến các môn học bên ngoài: Anh văn, Hán văn, vi tính… Có gì quan trọng đâu, đó chỉ là phương tiện, chấp làm gì! Tỏ ra kham khổ quá mà chi, mình phải hòa đồng với mọi người xung quanh chớ!

Ðạo Trí đã bước đầu thành công, học hành rất tốt. Vậy mà mỗi khi có dịp gặp lại các huynh đệ cũ, nghe những lời phân tích, trách cứ Ðạo Trí lại cảm thấy buồn, thấy hình như mình đã sai, đã chạy theo vọng tưởng nhiều quá. Khổ tâm nhất là khi gặp lại thầy, thầy không nói gì cả, không trách mắng cũng không khuyến khích, vẫn điềm đạm từ bi nhìn Ðạo Trí như ngày nào; nhưng không hiểu sao Ðạo Trí không thể yên tâm được!

Những câu nói của mọi người như một cuộn băng cứ quay đi quay lại rối tinh trong đầu: “Ðã được Hòa Thượng tự thân tận tình chỉ dạy, đường thẳng không đi lại đi đường vòng”; “Học viện đã nhiều hơn tu viện, người của tu viện lại chạy ra học viện”; “Liệu đã đủ bản lĩnh để vừa học vừa tu?”; “Trường lớp như một cái tiệm uốn tóc, người có tóc vào đó, khi bước ra chưa chắc ai cũng được một mái tóc đẹp, huống chi mình là người đã cạo trọc đầu!”; “Con đường nào cũng được, miễn về đích là tốt, hãy đi đúng con đường mà mình đã chọn, đừng nhảy lung tung!”…

Nghiệp phước khó đoán, thôi thì tùy duyên vậy. Ðể tự nhắc nhở mình, Ðạo Trí quyết định làm một việc: Mỗi trưa, sau giờ quả đường, khi mọi người đã đi nghỉ cả, Ðạo Trí lại ra gốc bồ đề, nhặt lấy tám chiếc lá gom vào gốc cây – thể hiện lòng mong mỏi, triết lý sống của mình.

Không biết công việc ấy Ðạo Trí thực hiện được bao lâu, bởi sau đó tôi phải đi công tác xa một năm. Tôi ấp ủ bức tranh và mong ngày trở lại chùa. Và giờ đây tôi đang đứng chờ… Ðã quá cái giờ mà Ðạo Trí đi ra nhặt lá, vẫn chưa thấy bóng người đâu. Ðạo Trí đã trở về thiền viện? Ðạo Trí đã đi học xa? Ðạo Trí đã đủ vững, không còn cần đến cái việc tự nhắc nhở mình một cách lãng mạn, giáo điều như vậy nữa? Hay là Ðạo Trí đã… chính điều này làm tôi không dám hỏi thăm về Ðạo Trí. Tôi sợ!

Vài cơn gió thoảng qua, những chiếc lá bồ đề lại rơi một cách nhẹ nhàng thanh thản. Khi đã chắc chắn rằng Ðạo Trí không còn ra nhặt lá nữa, tôi đứng tần ngần thầm gởi ước mong vào những cơn gió. Cơn gió nào sẽ đưa những chiếc lá kia về cội, cơn gió nào sẽ thổi chúng bay xa? Và có lẽ bức tranh của tôi sẽ là bức tranh với những chiếc lá đang bay lơ lửng chưa biết sẽ về đâu? Rời chùa ra về, khi bước qua cội bồ đề, tự dưng tôi cúi xuống nhặt lấy tám chiếc lá. Chưa biết vì sao và để làm gì?

Vườn hoa Phật giáo

8:17 pm
January 23, 2015


khahan

khahan
Admin

posts 11748

Trên ngọn tình sầu

Ai sống ở đời cũng phải dẫm lên những buồn vui mà đi về phía trước. Có một ngày tôi chợt phát hiện ra mình có những chuyện ngậm ngùi, có thể từng khiến nhiều người thấy buồn, nhưng tôi nhớ hình như chưa nghe ai nhắc tới. Bỗng muốn kể chơi vài chuyện buồn trong số đó cho vui!

 

Ảnh minh họa -Nguồn: Internet

Tôi chỉ mới về Tàu hai lần trong mười năm xa xứ. Tôi từng đứng một mình trên bến Thượng Hải để ngắm nhìn con sông Hoàng Phố trong đêm, đêm ở đó thường nhiều gió lạnh. Tôi từng một mình thả bộ trong phố đêm Lệ Giang cho đến lúc quán xá bắt đầu đóng cửa. Nhiều và khá nhiều những nơi chốn đây kia trên xứ Tàu đã hút hồn tôi, đến mức đã rời đi cả tháng trời sau đó còn cứ thấy nhớ như điên. 

Vào ra chỉ mong ngày trở lại lần nữa. Thế rồi một ngày đọc báo, thấy đâu đó những tin tức về mấy vụ nổ quặng mỏ hay tai nạn giao thông ở Trung Quốc có nhiều người chết, tôi bỗng nghe ngậm ngùi bằng một kiểu rất riêng, có lẽ chẳng giống ai. Những người vừa chết đó thường là dân nghèo, những người cả đời cũng không đủ sức đi hết những miền đất tuyệt vời của quê hương mình. Hôm nay họ đi rồi, vẫn chưa kịp biết được quê hương mình kỳ vĩ, cẩm tú đến mức nào. Nghĩ chừng đó thôi, tôi cứ nghe ngậm ngùi nao nao.

Tôi lại có lúc ngậm ngùi khó tả khi nhìn thấy ở đâu đó những ông cụ bà lão lọm khọm trên đường, hay ngồi đờ đẫn trước một hiên nhà nào đó với ánh mắt vô hồn đang dõi nhìn tận đâu. Họ bây giờ đã mất gần hết cái mà người ta gọi là trí nhớ. Họ hồn nhiên như trẻ con, thơ ngây tin cậy và hờn giận ngây ngô. Họ không còn nhớ gì những cuộc hẹn dưới khóm trúc bờ ao đêm trăng năm nào, họ quên mất những ngày mưa ngồi bó gối trông ra bờ đất đầu làng mong ngóng một người quen. Quên hết, quên sạch. Tôi bồi hồi tưởng tượng nếu mấy chục năm trước biết được hôm nay hai đứa đều sẽ như vậy, chẳng biết đôi tình nhân ngày ấy đã nghĩ gì. Vậy rồi tôi cũng buồn nhè nhẹ…

Tôi lại có lúc ngậm ngùi khi nhìn thấy một người nghe đâu đang bị phản bội mà không hay biết, vẫn cứ một dạ sắt son với người tình phụ như đứa bé con tin mẹ. Dẫu đó là chuyện của thiên hạ, tôi cứ ngai ngái một nỗi lo vô duyên. Trời ơi, nếu một ngày chuyện vỡ lỡ ra thì sao chứ. Thương người này, nhưng tôi không biết phải trách người kia ra làm sao. Ai có yêu thì biết mà. 

Nếu con người ta làm gì cũng bằng sự khôn ngoan hữu lý thì trên đời làm sao có chuyện yêu đương chứ. Trong A-tỳ-đàm cũng nói, ngay trong cái thương hay thích bao giờ cũng có cái ngu đi kèm như trầu với vôi. Vậy rồi tôi chỉ còn biết ngậm ngùi ngó theo một cuộc tình đã không còn gì trước khi bị mất.

Có lẽ tôi nghèo, nên cứ bâng khuâng mỗi khi nghe thấy đâu đó những trò chơi vung tiền của mấy người dư dả, giữa khi trong khắp thiên hạ có những sức sống tuyệt đẹp, lại đang thoi thóp chỉ vì không có nổi một khả năng cơm áo tối thiểu để có thể sống cho ra phận người. 

Hồi còn bên nhà, nhất là những khi ngồi trên đò xe, tôi không bao giờ quên nổi ánh mắt thèm thuồng của những đứa bé nhà nghèo nhìn mấy đứa khác cùng trang lứa đang gặm một miếng bánh hay que kem, mà nó biết là mẹ mình không mua nổi cho con. 

Ông Bill Gates từng nói là cuộc đời vốn không bao giờ có chuyện công bằng, hãy ghi nhớ điều đó để không so đo buồn tủi. Tôi tin Phật nên không đồng ý câu nói đó trăm phần trăm, nghĩa là tôi không nghĩ rằng cuộc đời bất công, nhưng mục đích của câu nói đó thì tôi chịu lắm. Bởi cứ đòi hỏi công bằng thì không ai sống nổi đâu. Buồn chết!

Một thiền sư Nhật Bản trên đường hoằng pháp qua các châu lục đã ghé ngang Hoa Kỳ, và khi được các phóng viên hỏi ngài có ấn tượng nào sâu sắc nhất khi tận mắt nhìn thấy đủ thứ ở các nước mà ngài dừng chân. Sau một giây ngẫm nghĩ, vị thiền sư đăm chiêu: “Ở đâu thì cũng chỉ có vậy thôi, điều làm tôi ngạc nhiên là ai cũng biết sống chết là chuyện bất trắc nhưng cứ thích nghĩ chuyện lâu bền chắc chắn”. 

Với tôi hình như đó cũng là chuyện để ngậm ngùi. Nhiều lúc cầm mấy món đồ nhỏ xíu như cái đồng hồ, bút máy, hay chỉ một chiếc kim băng mà cứ bâng khuâng vớ vẩn. Nếu không bị ai đó cố tình phá hủy thì chắc chắn mấy món đồ cỏn con này sẽ tồn tại trên đời này lâu hơn cả tôi. Nhất khoảnh điền thiên niên vạn chủ. Có dịp ghé thăm mấy tiệm bán đồ xưa (antique) thì nỗi ngậm ngùi đó càng sâu. Nhiều món ở đó dễ chừng đã trăm năm, biết đã qua tay mấy đời chủ nhân, bây giờ được bày bán ở đó để chờ đợi một người chủ mới.

Những gì bây giờ tôi thương thích nhất, mai mốt không biết về tay ai. Mai mốt ở đây có thể là vài ngày nữa, vài tháng nữa, vài năm nữa hay vài chục năm nữa. Nói tới đây tôi lại muốn lạc đề một chút về cái gọi là những giá trị trong cõi phù vân này. Nhiều khi một món đồ có chứa một giá trị kỷ niệm ghê gớm đối với người này, nhưng với người khác thì chuyện đó chẳng có nghĩa lý gì hết. 

Mọi giá trị của một món đồ hình như chỉ là chuyện ước lệ, chỉ được áp đặt gán ép một cách tương đối. Thế là những gì tôi nâng niu hôm nay, biết đâu mai kia chỉ là một thứ phế thải trong mắt người khác. Như tôi yêu em, xem em là một nửa đời mình, và suốt kiếp chỉ có thể là gã Tiêu Lang đứng mồ côi cuối đường nhìn theo dáng em mà hoài vọng. Vậy mà em lại thuộc về một người khác, nhưng chẳng là gì trong mắt người ta, bị lãng quên lăn lóc mà vẫn một đời chờ đợi một phút đoái hoài. Còn tấm tình tôi thì em không thèm ngó tới một lần. Đời sống luôn đầy ắp những bi kịch kiểu vậy. 

Nghĩ đến đó ai lại không ngậm ngùi chứ.

Đã bảo những khổ đau bi hận của cuộc trầm luân là nhiều như cát trong sa mạc, nếu đem chất lại thành đống cũng đủ để làm nên một ngọn tình sầu chứ chẳng chơi. Chẳng qua vì ham chơi, vì tất bật hay lại vì trót sống thơ ngây nên người đời không nhìn thấy ra cái nỗi trầm oan đó. Từ mọi lãnh vực chính trị, tôn giáo, văn hóa, xã hội, rồi thì cả khoa học, ngó kỹ đâu cũng cơ man là những chuyện buồn. Chợt nhớ một câu ngắn trong hồi ký của nhà thơ Tản Đà mươi năm trước: Cái tội lớn nhất trong đời chính là lợi dụng niềm tin của người khác vào mục đích tư lợi của mình. Ngẫm kỹ, câu nói đó sâu sắc kinh khủng.

Về chính trị, bao kẻ biết chủ nghĩa mình đang theo là tầm bậy, sai lầm, nhưng vì quyền lợi bản thân mà tìm mọi cách nhồi sọ những người thơ ngây, suốt bao thế hệ, để thiên hạ đời đời làm trâu ngựa cho mình. Và kẻ bị lợi dụng lại cứ tưởng mình là con cưng, là kẻ được ban ân sủng nên chung thân cúc cung tận tụy chẳng dám hồ nghi, rồi thì chính mình đánh mất kiếp đời tự do theo một kiểu tôi đòi tự nguyện mà không hay. Đó cũng là cái để người biết chuyện phải ngậm ngùi.

Về tôn giáo, bao người vì mong được mấy chữ tôn sư, giáo chủ gì đó mà không ngần ngại dẫn đưa thiên hạ vào mê lộ. Thiên hạ mỗi người đều có những thao thức, trăn trở nhức nhối nên ai hiểu được nhu cầu tinh thần đó thì tha hồ bày vẽ, thế là chỉ cần đầu hôm sớm mai là đã thành chỗ dựa cho một góc nhân gian. 

Hành tinh này từ mấy ngàn năm qua đã oằn mình mà chứa bao thứ giáo điều rác rưởi kiểu đó. Cái đau đớn là danh lợi của kẻ giáo chủ kia nhiều lắm cũng chỉ một đời, mà cái di hại cho hậu nhân thì muôn kiếp còn hoài như một vết thương ngày càng lở lói. Lúc bình tâm ngẫm ra chuyện đó, ai lại chẳng một phen ngậm ngùi.

Về khoa học, ai cũng tưởng đó là lãnh vực sạch sẽ khả tín nhất trên đời, nhưng có mấy người ngờ được rằng cái gọi là khoa học đó cũng vẫn là sân chơi của biết bao thứ quyền lực ám muội. Tôi học dốt, chỉ biết rằng có vô số những đầu óc kiệt xuất – thay vì chuyên tâm phát minh những gì cần thiết cho hạnh phúc chúng sinh, thì lại chỉ cúi đầu nhận lấy những cái đơn đặt hàng có nội dung chết người. Họ là những người giữ độc quyền lên tiếng về cái gọi là những kết quả khoa học, nay nói cái này có lợi, mai nói món kia có hại. Rồi thì một ngày vỡ lẽ ra, đó là ý muốn của mấy tay tài phiệt!

Biết được chút chuyện đời, mỗi lần xem đài, đọc báo thấy người ta quảng cáo một sản phẩm nào đó hấp dẫn, hay khi bị bệnh phải uống một viên thuốc tây, hoặc lúc rỗi rảnh ngồi đọc đâu đó dăm bài viết của thiên hạ, tôi cứ ngậm ngùi: Chẳng biết cái nào trong mấy thứ này là thật sự vô hại!

Từ đó, nếu mai này có người cắc cớ hỏi tôi làm sao có thể giải thích ngắn gọn về cái gọi là Khổ Đế trong đạo Phật nguyên thủy, có lẽ tôi còn có thêm một cách nói rất thời thượng rằng: “Cuộc trầm luân có ra sao thì cũng chỉ là một ngọn tình sầu!”

Vườn hoa Phật giáo

8:24 pm
January 23, 2015


khahan

khahan
Admin

posts 11748

Giận mà chi ta ơi

Mình có thể quán tứ diệu đế đối với cơn giận. Nguyên nhân nào làm cơn giận đó phát khởi, phải nhận diện cơn giận đó. Nếu mình không biết kiềm chế thì sẽ dẫn đến hành động gì? Nhiều người nói giận quá mất khôn, nếu như vì giận hờn vô cớ mà đập máy tính thì mình đã bị tiêu hao tài sản rồi. Vợ chồng giận dỗi cãi nhau đem đồ đạc ra đập, thậm chí còn đốt cả cái nhà. Khi hết giận thì nhà không còn, đồ đạc cũng mất. Cơn giận đến mình phải niệm, giận à, giận à, đến khi nào cơn giận hạ nhiệt xuống thì thôi.

 

Ảnh minh họa -Nguồn: Internet

Về quê thăm nhà, Trúc Lam rất vui. Nào được gặp nội ngoại cô chú và mấy đứa em, ai cũng hỏi thăm Trúc Lam hết. Ở trong quân đội ăn có ngon không, ngủ có đủ giấc không, có được ra ngoài mua đồ ăn thêm không. Bao nhiêu tình cảm người thân dành cho mình, Trúc Lam cảm thấy rất hạnh phúc.

Trúc Lam chợt nhìn nội mà trong lòng bùi ngùi. Tóc nội nay đã bạc, da nội đã nhăn hơn trước nhiều. Mới ngày nào mình còn là một đứa trẻ 4 – 5 tuổi, nội còn tắm rửa đúc cơm cho mình ăn mà giờ mình đã lớn thế này rồi. Chắc có lẽ do cái tuổi thơ của Trúc Lam lớn lên trong vòng tay của nội nên bây giờ nội mới thương Trúc Lam nhiều đến thế.

Hôm nay bên nội, cô chú, ai cũng về đông đủ nên nội làm đủ món nào là gà chiên nào là vịt nấu cháo, cá kho tộ canh khổ qua… Để có được những món ăn này nội đã giết hết hai con gà và một con vịt. Cứ mỗi lần gia đình xum họp hay có đám giỗ là nội phải sát sinh. Trúc Lam nhìn nội mà xót thương vô cùng vì nội đã tạo nghiệp sát sinh từ trước đến giờ không biết bao nhiêu mà kể. Dù có vài lần Trúc Lam khuyên nội thôi đừng giết gà mổ vịt nữa, vì như thế nội sẽ tạo nghiệp đó, tụi con về sẽ tự mua đồ về ăn.

Do nội không tin Phật pháp không tin nghiệp quả nên Trúc Lam có khuyên thì nội cũng ừ cho qua chuyện mà thôi. Sức khỏe nội thì sáng đau tối nhức. Có đêm không ngủ được chắc cũng là do nội đã tạo nghiệp quá nhiều. Trúc Lam biết rằng tình cảm của nội hay cô chú có dành cho mình nhiều hay ít rồi nó cũng sẽ không còn. Do cộng nghiệp mà kiếp này mình mới là người thân của nhau, cùng sống chung trong một gia đình. Khi mất rồi thì những tình cảm mà người thân dành cho mình cũng sẽ tan biến chỉ có nghiệp thiện và nghiệp ác theo mình mà tái sinh.

Trên thế giới này có hơn 6 tỷ người thì mình cũng từng là con, là anh, là em của nhau trong hằng hà sa số kiếp. Ngày xưa Đức Phật cùng Thánh chúng đang đi du hóa thì gặp một đống xương khô bên vệ đường, Đức Phật sụp xuống lạy đống xương khô ấy. A Nan rất ngạc nhiên vì Đức Phật là thầy của trời, người, không hiểu lý do gì mà Ngài phải lạy đống xương khô vô danh như vậy. Đức Phật cho biết, dưới mắt phàm phu, đống xương khô vô nghĩa, không có giá trị gì. Nhưng theo tuệ nhãn của Phật thì trong đống xương khô, có mối tương duyên mật thiết với chúng ta, với những người đang sống.

Theo vòng quay của sinh tử luân hồi vô tận, chúng ta đã từng thay hình đổi dạng không ngừng; thay nhau làm cha mẹ, ông bà, vợ chồng, con cái, bạn bè, thân thù… đủ thứ cách mà chúng ta vì vô minh nên không hề nhớ, không hề biết. Trong mối tương quan tương duyên vô hình ràng buộc từ trong nhiều kiếp như vậy, mối tình thân thương của ông bà, cha mẹ đối với chúng ta có thể nói rất là thâm sâu; đặc biệt là tình thương cao cả của người mẹ đối với con. Đức Phật chỉ cho thấy tình thâm cốt nhục của người mẹ đối với con cái được khắc sâu đến tận xương tủy, đến khi chết, thân xác đã bị thiêu đốt mà còn để lại dấu vết trên xương.

Đức Phật dạy cách phân biệt để biết xương của người chết thuộc nam giới hay nữ giới; xương của người đàn bà thì đen và nhẹ; xương của người đàn ông thì trắng và nặng.

Ngày nay, chúng ta thấy hiểu biết ấy của Đức Phật rất chính xác theo khoa học. Với tuệ giác vô thượng, Ngài đã biết trước những điều mà cả ngàn năm sau khoa học mới chứng minh được. Lúc mang thai cũng như khi cho con bú, số lượng calci của người mẹ bị hao hụt rất nhiều vì đã được sử dụng để cấu tạo xương cho đứa con và tạo thành sữa cho con bú. Trải qua nhiều năm tháng sanh đẻ, nuôi con, đến khi tuổi lớn, người đàn bà lại mất thêm lượng calci rất nhiều do mất nội tiết tố của nữ giới. Vì vậy, xương của người đàn bà ít calci hoặc không còn calci, trở thành rỗng, nên nhẹ hơn xương đàn ông.

Từ góc độ thấy theo tuệ giác của Phật và Thánh chúng, chúng ta nhìn xa trong kiếp sanh tử luân hồi, nhiều đời đã từng thay nhau làm cha mẹ. Vì vậy, khi chúng ta nhìn trở lại xã hội mình đang sống, thấy được mọi người đều có quan hệ mật thiết với nhau, ai cũng có thể là cha mẹ, bà con thân thương của ta. Từ đó, chúng ta sanh tâm kính trọng những người xung quanh như cha mẹ.

Do nhà ngoại và nhà nội gần nhau nên sau khi dùng cơm xong Trúc Lam tranh thủ sang thăm ngoại. Ngoại của Trúc Lam tu tịnh độ nên có thờ tượng Phật trong nhà. Cũng đã lâu rồi Trúc Lam không có lạy Phật. Trong lúc đợi ngoại đọc kinh Trúc Lam đứng nép kế bên và thực tập thiền lạy. Khi lạy, Trúc Lam có chánh niệm về từng động tác và tâm ý. Trúc Lam biết chấp tay, cúi xuống, quỳ xuống, phủ phục, trán và mũi tiếp xúc với đất. Lạy thứ nhất Trúc Lam nguyện nương tựa Phật. Trúc Lam ý thức được rằng lạy Phật không phải ta lạy bức tượng mà ta thực sự đang tiếp xúc với tinh thần Phật, tính cách Phật, hạnh từ bi Phật. Người hiểu hết trọn vẹn tất cả những gì có thể hiểu được, Người hiểu biết sâu sắc tứ thánh đế và dạy cho chúng sanh hiểu thánh đế.

Lạy thứ hai Trúc Lam nguyện nương tựa Pháp, Pháp là phương pháp tu học, là con đường chánh đạo giúp vượt thoát mọi tử sanh.  Lạy thứ ba Trúc Lam nguyện nương  tựa Tăng. Chư tăng, không phải ta lạy một con người mà ta thực sự đang bày tỏ tấm lòng nương tựa vào tăng thân, đi chung với tăng thân và tu tập cùng tăng thân. Nương tựa tam bảo hay tin vào Phật Pháp Tăng có nghĩa là đặt niềm tin vào tăng đoàn, bạn bè thiền sẽ giúp chúng ta, những vị  thiền sư nhiều kinh nghiệm thiền sẽ chỉ dẫn chúng ta.

Hồi đức Phật còn tại thế, ngài Xá Lợi Phất chỉ dẫn thiền sinh đến tầng thiền Sotapanna và Sakadarami. Còn ngài Mục Kiền Liên chỉ dẫn thiền sinh hai tầng thiền tiếp theo là Aganmi và Arahan. Nhờ những vị tăng tài đức trọng, công phu sâu dày dẫn dắt nên chúng ta không bị lầm đường lạc lối trên con đường thiền tập, do đó chúng ta quy y Tăng. Khi được những vị thầy nhiều kinh nghiệm chỉ dẫn và do sự tập luyện chuyên cần, chúng ta ngộ ra các Pháp đều là vô thường. Do kinh nghiệm các Pháp đều vô thường nên chúng ta ngộ được Giáo Pháp do đức Phật tìm ra. Vì thế chúng ta quy y Pháp. Do hiểu Giáo Pháp bằng kinh nghiệm trực tiếp mà chúng ta có thể giải thoát, có thể  thành Phật. Vì thế chúng ta quy y Phật. Vậy lòng tin mà đức Phật đòi hỏi nơi chúng ta không phải là một niềm tin mù quáng mà rất thực tế.

Đức Phật từng dạy: “Đừng tin vào kinh điển đừng tin vào những gì người khác nói, đừng tin do truyền thống… Hãy từ từ luyện tập và chỉ tin vào những sự thật mà chính bạn đã chứng ngộ”.

Dù theo pháp môn thiền hay tịnh độ thì cả hai pháp môn đó cũng không thể giúp mình giải thoát mà đó chỉ là phương tiện giúp mình tu tập mà thôi. Bản thân mình là người tu tập mới có thể giải thoát. Thầy hay bạn đồng tu không thể tu dùm mình mà mình được giải thoát cả. Trong thời gian qua Trúc Lam nhờ thầy chỉ dạy về việc thực tập thiền và sự chia sẻ của những bạn đồng tu, Trúc Lam mới có thể tu tập chuyển hóa những khổ đau như ngày hôm nay.

Thiền thực chất không có gì gọi là cao siêu cả, nó chỉ là phương pháp thực tập diệt trừ tham, sân si. Khi chúng ta không thiền chúng ta sẽ bị si mê lầm lạc và chúng ta sẽ không theo kịp sự biến đổi của tâm chúng ta, cho nên chúng ta sẽ phản ứng một cách máy móc. Khi cơn giận phát khởi, chúng ta có thể cảm nhận được sự khuôn mặt của mình lúc này đỏ bừng, cơ thể nóng lên, đầu óc rối bời…Nhiều khi cơn giận không phải do một người nào đó tác ý làm cho mình giận mà cơn giận tự  trong tâm mình bộc phát. Hay đã gần đến ngày nộp bài viết cho thầy mà mình ngồi cả hai giờ đồng hồ vẫn chưa suy nghĩ được vấn đề gì để viết. Tự nhiên mình nổi sân với việc viết bài, nổi sân với cái máy vi tính và muốn đập vỡ nó ra. Những lúc như thế thì mình phải biết đem sự thực tập thiền ra mà điều phục thân tâm. Đang nổi sân thì làm sao mà viết bài được, hãy ngưng việc viết bài lại chờ khi nào sự việc nổi sân không còn thì viết tiếp. Khi đó thì bài viết của mình mới đầy đủ ý mà mình muốn viết.

Mình có thể quán tứ diệu đế đối với cơn giận. Nguyên nhân nào làm cơn giận đó phát khởi, phải nhận diện cơn giận đó. Nếu mình không biết kiềm chế thì sẽ dẫn đến hành động gì? Nhiều người nói giận quá mất khôn, nếu như vì giận hờn vô cớ mà đập máy tính thì mình đã bị tiêu hao tài sản rồi. Vợ chồng giận dỗi cãi nhau đem đồ đạc ra đập, thậm chí còn đốt cả cái nhà. Khi hết giận thì nhà không còn, đồ đạc cũng mất. Cơn giận đến mình phải niệm, giận à, giận à, đến khi nào cơn giận hạ nhiệt xuống thì thôi.

Mình biết là mình được trao truyền từ cha của mình hạt giống nóng giận và mình không muốn giống cha. Mình muốn trở thành một con người dễ thương. Nếu niệm cơn giận trong thời gian dài mà vẫn không lắng dịu xuống thì mình hãy nên nằm thiền, nghe pháp thoại hay điện thoại trò chuyện với bạn đồng tu để nhờ chia sẻ. Đó cũng là một trong những cách giúp mình chuyển hóa cơn giận. Người mà không có sự thực tập thiền gì cả, khi cơn giận bộc phát họ sẽ chạy trốn cơn giận hay bí thế quá thì đè nén cơn giận. Nhưng đến một lúc nào đó cơn giận bộc phát dữ dội thì mình không còn đủ sức để mà kiềm chế được nữa và dẫn đến hành động lầm lỗi.

Do mình chưa biết cách chuyển hóa cơn giận trong tâm mình mà mình chỉ mới đè nén cơn giận đó thôi. Tức nước vỡ bờ, dồn nén cơn giận lâu ngày, nó thành một quả bom nổ chậm và sẽ phát nổ dữ dội. Mà khi dữ dội rồi thì cơn giận bất chấp tất cả, như một trận đại hồng thủy càn quét hết tất cả những gì đang có mặt. Đến khi cơn giận đi qua rồi thì ngồi đó than thân trách phận, sao mình dại thế, sao mình không biết kiềm chế cơn giận trong lúc đó, mình đau khổ đã đành còn kéo mọi người phải đau khổ theo.

Trong Tâm Kinh Bát Nhã Ba La Mật có viết: “không sinh cũng không diệt”. Vì cơn giận vô thường, cơn giận trong tâm mình sinh ra rồi đến lúc nào đó cũng sẽ mất đi. Nó hiện hữu trong một hoàn cảnh nào đó rồi nó cũng mất đi trong một hoàn cảnh nào đó. Những cơn giận này thường không đầu không đuôi, không theo một thứ tự logic nào cả, hôm nay mình vui ngày mai mình buồn. Niềm vui và nỗi buồn luôn xen kẽ nhau, niềm vui có mặt, ta nhận biết niềm vui có mặt tức nỗi buồn đang không biểu hiện. Nỗi buồn có mặt, ta nhận biết nỗi buồn có mặt tức niềm vui không còn. Tâm mình biến đổi thất thường không cố định. Nên mình không có chán ghét cơn giận, không kẹt vào cơn giận, mà hãy chăm sóc cơn giận bằng năng lượng của tình thương, của sự thực tập.

Nhiều khi sân giận, bực bội, tuyệt vọng một phần cũng do nguyên nhân thức ăn ta tiêu thụ. Ta phải có một kế hoạch ăn uống, tiêu thụ như thế nào để cho khỏi phải bị sân hận, bạo động xâm chiếm có thể đem lại hòa bình và làm vơi bớt khổ đau. Thức ăn đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát khởi sân hận. Thức ăn có thể chứa đầy sân hận. Khi ăn miếng thịt của một con bò bị bệnh "bò điên" (mad cow disease) thì cái chất điên của con bò có sẵn trong miếng thịt. Không những thế, khi ăn một quả trứng hay một miếng thịt gà ta cũng phải biết rằng quả trứng hay miếng thị gà đó cũng có thể chứa đầy chất sân hận. Chúng ta ăn chất sân hận và sẽ phát khởi sân hận.

Một con heo khi sắp bị giết mổ thì có cả ba bốn người đè con heo xuống và giết. Bản năng của con heo khi sắp bị giết sẽ rất sợ hãi và cố gắng vùng vẫy để thoát. Sự sân giận oán thù của con heo lúc này đang rất mạnh mẽ nếu như con heo bị giết để làm thịt trong lúc này thì khi ta ăn phải sẽ mang tâm trạng sân giận oán thù của con heo. Mình đã vô tình mang sân giận, hận thù vào trong thân tâm mình hồi nào không hay. Nên trong bữa ăn mình hạn chế việc ăn thịt cá và thay thế bằng ăn nhiều rau và củ quả. Không ăn uống sản phẩm độc tố không tiêu thụ sản phẩm độc hại chứa đựng bạo động, khủng bố, cuồng tín, sợ hãi thèm khát và hận thù.

Vườn hoa Phật giáo

8:37 pm
January 23, 2015


khahan

khahan
Admin

posts 11748

Ham muốn và sự mưu cầu bình an

Tôi biết lạy Phật và cầu xin chở che từ lúc còn nhỏ. Nếp tẻ này đã ăn sâu vào ký ức, cứ nghĩ hễ đi chùa thì mình sẽ cầu xin đức Phật chuyện gì đấy. Nhưng từ khi gặp bạn thì tôi bắt đầu thay đổi suy nghĩ này.

 

Ảnh minh họa -Nguồn: Internet

Giống như tôi, bạn cũng không có kiến thức Phật pháp, nhưng bạn luôn tôn kính Ngài như một triết gia lỗi lạc của mọi thời đại. Bạn chỉ thắp một vài cây nhang và quỳ lạy thành kính. Trong khi đó, những người chung quanh đốt cả bó nhang và chăm chỉ quỳ lạy hết tất cả các vị Phật.

Bạn thắc mắc rằng nếu không vào chùa và bái kiến tượng Phật thì họ có lạy Phật trong tâm hay không? Bạn cũng hỏi rằng mình phải đốt cả trăm cây nhang thì Phật mới chứng nhận lòng thành sao?

Nếu cúng dường xa xỉ để cầu mong ý nguyện đạt thành, thì chẳng khác nào chúng ta hạ thấp lòng tin vào đức Phật như một người quyền thế thích ăn hối lộ! Nếu vậy thì e rằng chúng ta không có lòng tôn kính đức Phật, bởi vì Phật luôn hiện thân muôn phương.

Nếu Phật ở trong tâm thì ở đâu và lúc nào mình cũng có thể đảnh lễ trước Ngài. Nếu chỉ vào chùa mới thấy được Phật thì lòng tin của chúng ta lại bị giới hạn. Một khi lòng tin bị giới hạn thì nhất thiết không nên tin tưởng. Nếu không tin thì không nên vào chùa, lại càng không nên luôn miệng nói tin vào Phật. Nhưng tại sao nhiều người vẫn vào chùa lạy Phật và cầu xin bình an?

Như nhiều người khác, bạn cũng cầu nguyện cho những ước muốn của bạn trở thành sự thật. Có hai loại ước muốn: ảo tưởng và thực tế. Ham muốn ảo tưởng thì không đáng nói làm chi, bởi vì nó thể hiện sự sân si vốn phần nào thấm sâu vào bản chất một số người dưới sự tác động của môi trường.

Trong ước muốn thực tế, lại có ước muốn cần thiết cho cuộc sống, ví dụ như mong muốn cha mẹ đặng bình an hay học hành tấn tới; hay loại ham muốn trần tục cho riêng bản thân, ví dụ như có nhiều tiền để đi du lịch nước ngoài cho thỏa thích.

Bạn cũng có những khao khát trần tục. Bạn cho rằng chúng ta không cần tiết kiệm ước mơ, nhưng nên biết cách điều tiết chúng. Như một cách dự phóng về tương lai mà ai cũng vậy, bạn luôn có ước mơ về viễn cảnh to lớn, ví dụ như việc có nhiều tiền để mua biệt thự. Để được như vậy thì trước tiên bạn cần phải có công việc.

Để có công việc tốt thì bạn phải có bằng cấp tốt. Để có bằng cấp tốt thì bạn cần phải đi du học. Để được đi du học thì bạn phải xin học bổng. Ngoài năng lực học thuật và khả năng ngoại ngữ của bạn, việc xin học bổng còn bao gồm yếu tố may mắn mà bản thân bạn không thể nào quyết định được.

Do đó, bạn cũng cầu xin đức Phật ban cho may mắn trong quá trình nộp đơn dự tuyển. Không phải tất cả ham muốn đều là xấu xa, bởi vì có nhiều ước muốn xuất phát từ nhu cầu thực tế và mưu cầu vươn lên sống tốt cho bản thân và xã hội.

Trong quá trình dự phóng về tương lai bằng những ước mơ, có thể bạn không đạt được một cách trọn vẹn. Có lẽ bạn cũng chỉ mua được một căn nhà cũ mèm, nhỏ xíu ở ngoại thành. Nhưng trên con đường đi đến ước mơ thì chắc rằng bạn sẽ đạt được những thành tựu khác.

Đón nhận thành tựu nhỏ nhoi cũng là một cách thực thi ước mơ lớn hơn của mình. Quan trọng hơn, đằng sau việc mua sắm biệt thự không chỉ nhằm bản thân hưởng thụ, mà bạn mong mỏi được chăm lo cho những người thân có được cuộc sống bình an. Chỉ khi họ bình an thì bạn mới cảm thấy bình an.

Như vậy, ước mơ của bạn gắn chặt vào những người xung quanh và lòng tin vào đức Phật. Sự hiện diện lòng tin về đức Phật của bạn không bị giới hạn về thời gian hay không gian.

Theo tâm niệm của bạn, đức Phật có khắp mọi nơi và hiển linh để che chở chúng ta. Như vậy, bạn vẫn lạy Phật để nguyện cầu về những ham muốn sân si.

Xin được lặp lại rằng chúng tôi đều không có kiến thức về Phật pháp. Bởi vì cả hai chúng tôi đều là kẻ sân si, ham muốn lúc nào cũng có, nên đi chùa để cầu bình an. Bình an không nhất thiết bắt nguồn từ mưu cầu đạt được ham muốn, bởi vì ham muốn tồn tại trong một chuỗi biến thiên. Ví dụ, ham muốn có được xe hơi luôn gắn liền với tiền bạc, tiền bạc gắn liền với công việc, năng lực, quan hệ xã hội. Muốn có xe hơi thì phải có tiền, muốn có tiền thì phải… Một chuỗi biến thiên với cụm từ thì “thì phải…”

Ngoài ra, có xe hơi thì chưa chắc được an toàn và hạnh phúc, vì chúng ta lại phải đối mặt với nguy cơ tai nạn, chi phí phát sinh, hay phiền hà từ những ganh ghét xã hội. Nói cách khác, chuỗi biến thiên ham muốn có hai mặt: hệ lụy từ ham muốn và lòng tham về ham muốn khác. Nhưng điều này cũng không có nghĩa rằng chúng ta không cần có ước muốn khi dự phóng vào tương lai.

Trong chuỗi biến thiên ham muốn này, để một ham muốn trở thành hiện thực thì chúng ta phải đồng thời thực hiện nhiều ham muốn khác. Tức là bản thân lại tiếp tục mong chờ vào những điều kỳ diệu có thể xảy ra cho bản thân. Đối với loại ham muốn ảo tưởng, sự ham muốn đó sẽ tiếp tục giày vò suy nghĩ, khiến bản thân xao động không yên.

Trước khi cầu nguyện, chúng ta đã có ham muốn. Sau khi cầu nguyện, có lẽ ham muốn ấy còn lớn hơn gấp bội. Do chúng ta không thực hiện được ham muốn của mình, nên phải cầu viện đến bậc siêu nhiên với một phép màu giúp ta thực hiện được ham muốn. Hóa ra chúng ta cầu nguyện là vì muốn lợi dụng lòng tin vào Phật để thỏa mãn ham muốn riêng mình. Vậy lạy Phật có còn ý nghĩa tôn kính nữa chăng?

Thông thường khi cầu viện đến thế lực siêu nhiên giúp đỡ, chúng ta có những ham muốn mà bản thân không thể một mình đạt được hay suy nghĩ ra cách đạt được. Theo đó, ham muốn vừa phi thực tế, vừa phù du.

Phù du bởi vì cuối cùng nếu may mắn đạt được ham muốn đó, thì sự thỏa mãn có tồn tại vĩnh viễn với chúng ta hay không, hay nó lại là khởi sinh của một chuỗi ham muốn khác? Đó là chưa nói đến những ham muốn phi thực tế và cuồng vọng mà có khi bản thân bị phạm pháp bởi vì hành động ngông cuồng nhằm đạt được những ham muốn đó. Vậy bản thân chẳng được bình an. Cầu nguyện bình an từ ham muốn lại trở nên vô nghĩa.

Như những người phàm, chúng tôi không thể sống rời ước muốn vật chất và tinh thần. Có thể ước muốn của một số người rất vĩ đại, đại loại như cầu cho thế giới được hòa bình. Nhưng chúng tôi chỉ nguyện cầu sống bình an trong thế giới xung quanh mà thôi.

Thế giới xung quanh là do chính chúng tôi tạo nên. Mặc dù tất cả thực thể đều tồn tại ở dạng vật lý, song ý nghĩa của từng vật thể và thế giới là do chính sự tương tác của chúng ta với thế giới đó tạo nên. Cho dù vật thể và thế giới tồn tại khách quan, nhưng chúng ta tạo cho chúng ý nghĩa chủ quan thông qua hành động và lời nói của chính mình.

Bởi vì là những người phàm phu còn trong vòng luẩn quẩn sân si, nên một khi càng vướng vào sự nhũng nhiễu trong tương tác với người khác thì chúng ta càng gặp rắc rối chẳng được bình an.

Nói như vậy thì không có nghĩa là chúng ta đoạn tuyệt với thế giới, vì không một ai trên cõi đời này, thậm chí cả đức Phật, có thể tồn tại mà không tương tác trực tiếp và gián tiếp với bất kỳ một ai.

Nhưng sự tương tác của chúng ta phải được tập luyện về hướng “sắc tức thị không”. Một mặt, chúng ta vẫn nhận thấy sự tồn tại của sự vật và người khác thông qua các giác quan. Mặt khác, sự tác động của họ lên chúng ta bị giảm thiểu ngoài vòng phức tạp của cõi ta bà.

Đấy là khi giác quan vẫn hoạt động, nhưng trong lòng chúng ta giảm thiểu tạp niệm, tham, ái, sân, si. Chúng ta xem thế giới xung quanh bằng một tấm lòng cảm thông, không sa ngã. Trong tương tác với người khác, chúng ta cần cảm thông với hoàn cảnh của họ, lắng nghe và trợ giúp họ khi cần thiết.

Chúng ta cũng không cần mưu cầu người ta sẽ đền đáp lại, vì như vậy chẳng khác nào chúng ta mắc nợ vào vòng luẩn quẩn ham muốn được trả ơn. Tách rời bản thân ra khỏi những ham muốn có thể gây phiền lụy chính là một trong những cách mà kẻ sân si chúng tôi cố gắng tu tập để đạt được sự trống rỗng trong tâm hồn.

Sự trống rỗng trong tâm hồn là lúc chúng ta không gán ghép bất cứ ý nghĩa nào cho thế giới xung quanh với chủ đích đạt được ham muốn cuồng si. Đó là trạng thái lý tưởng mà chỉ có bậc chân tu mới giác ngộ và thực hành. Chúng tôi chỉ là kẻ sân si nên quá trình này lại có nhiều khó khăn.

Là kẻ phàm phu, những gì mà chúng tôi có thể làm là niệm Phật lúc thật tĩnh tâm và không mưu cầu bất cứ việc gì từ việc niệm Phật. Khi niệm A-di-đà, chúng tôi chỉ thấy thân xác và linh hồn mình đang đảnh lễ trước Phật.

Sự tương tác ý niệm thông qua những hành động vật lý như quỳ lạy, nhắm mắt tập trung, hoặc mở miệng khẽ niệm, đều là sự tương tác trực tiếp với lòng tin của chúng tôi vào Phật. Lòng tin này giúp chúng tôi dẹp bỏ tạp niệm và ham muốn để đạt đến độ trống rỗng như không trong một khoảnh khắc thời gian.

Dẫu là một khắc thời gian nhỏ nhoi, nhưng ngày qua ngày, chúng tôi tu tập thói quen hạn chế sự suy nghĩ về những ham muốn ngông cuồng, mà chỉ đơn thuần tĩnh tâm không lo nghĩ.

Sự tĩnh tâm này giúp chúng tôi có thêm tính kiên nhẫn, sự can đảm đối mặt với khó khăn, và lòng cảm thông đối với những hoạn nạn của những người xung quanh. Bình an, ở chừng mực nào đó, lại xuất phát ra từ chính ý niệm rỗng không, không tạp niệm ta bà.

Tôi luôn cảm thấy bình an khi cùng bạn vào chùa lễ Phật. Được lễ Phật cùng bạn, dù cả hai không có kiến thức Phật học, đã phần nào giúp tôi tự ngộ ra một số vấn đề gắn kết giữa hiểu biết sơ đẳng về Phật pháp, lòng tin và cuộc sống của riêng tôi.

Vườn hoa Phật giáo


About the Việt Di Trú Forum

Forum Timezone: UTC 8

Most Users Ever Online: 403

Currently Online:
19 Guests

Currently Browsing this Topic:
1 Guest

Membership:

There are 7666 Members
There have been 276 Guests

There are 2 Admins
There are 6191 Moderators

Top Posters:

nhqvietnam – 102
porton – 101
kimha2311 – 81
Quynhdoan1180 – 77
pquynh92 – 73
pramy – 69

Recent New Members: mit, Gradypum, GeraldSaL, Jamestiz, tiendoa1963, Khanh Ng, Williammon, CharlesImary, Le Anh Kiet, Kamagrduems, Travisjicle, Slotoman, tungphan13, Georgegreby, RobertOliynuk, TNekitbka, Donnagor, SANGDO, lichdo, HershelDuh, daobatam.vt, Lankdek, AngeloVal, Bryantmopay, cliggeltPoice, Walterplerm, Charlottezep, Semmionshof, smmus.es, Robertgeofe, thuy mimosa, bef, Pharmaciesmeany, Enlignevept, hieubao1998, WilliamGreda, tuansigma, ScottEncox, Veragrice, Kix, sergeyagrisy, haotran0201, alibaba80, AsaresSeer, SDaresSeer, KennethHoaby, AngelBom, Paydaycreap, RobertInofs, DennisGon, khanhlinhhh, PassBarneexia, MariaSheEf, Zacharyrog, Nicexedari, Hahatone_Rus, Rebeccacum, Instafollowfast.com, Thomashauby, Hoang Chinh